My life

Nhận được lời mời viết bài về sự phát triển nghề nghiệp cho một tổ chức tư vấn nhân lực. Tôi đã viết bài này, nghĩ ít nhiều nó sẽ giúp ích gì đó cho sự định hướng nghề nghiệp cho các bạn trẻ, tôi quyết định chia sẻ với mọi người.

Hôm nay là 5 năm ngày tôi trở về Việt Nam, nghĩa là gần 7 năm từ ngày bước chân đi làm.

Sau khi xong phổ thông (năm 2000), vì một số lý do tôi không thể tiếp tục học lên đại học. Tôi quyết định đi làm để phụ giúp gia đình, lúc ấy không hề nghĩ mình sẽ trở thành cái gì cả, đơn giản chỉ là được làm công việc mình thích và làm để không phải để ba mẹ nuôi nữa.

Tôi vào làm cho một cửa hàng bán máy tính ở khu Bùi Thị Xuân, công việc là lắp ráp máy kiêm luôn trông coi phòng internet cafe của họ. Lương thời gian này của tôi là 700 ngàn/tháng. Tuy vậy tôi chưa bao giờ xấu hổ khi kể về khoảng thời gian này.

Làm được vài tháng, qua thông tin từ một người khách đến dùng internet (có dịp tôi sẽ viết về câu chuyện này, đó là một câu chuyện khá thú vị), tôi biết được một công ty về Thương mại Điện tử (Dizyatec) đang có kế hoạch đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực IT, tìm kiếm những tài năng trẻ để đào tạo và sau này làm việc cho họ. Tôi tìm hiểu rất nhiều sau đó và quyết định thử cơ hội.

Sau rất nhiều thử thách, cuối cùng tôi được chọn vào danh sách của Dizyatec – đợt ấy tổng cộng có 5 người được đưa sang Singapore, tôi là người trẻ nhất trong nhóm. Tôi đến Singapore vào khoảng tháng 9 năm 2000 với cam kết sau khi được đào tạo xong tôi sẽ làm việc cho Dizyatec Việt Nam tối thiểu 5 năm. Thời gian sống ở Singapore tôi sẽ có chỗ ở (5 anh em ở chung phòng), ăn uống và một ít chi phí cho tiêu xài – 500$S (số tiền này rất ít so với chi phí ở Sing).

Sau gần 2 năm vừa học, vừa làm việc cho Dizyatec. Tôi hoàn thành khóa học và trở về Việt Nam. Thời gian này ngoài việc học và làm việc bán thời gian cho Dizyatec Singapore, tôi còn tham gia một số hoạt động khác và có một số giải thưởng.

Trở về VN tháng 4 năm 2002 vào đúng lúc tình hình Dizyatec đang đi xuống, kế hoạch của họ gặp trục trặc gì đó với chính phủ Việt Nam, cuối cùng kế hoạch ở Việt Nam không thể thành hiện thực. Dizyatec cũng như Intel, IBM… và những công ty lớn khác khi đó đang có ý định đặt Việt Nam lên bàn cân cùng những nước khác, nhưng vì một số lý do về chính trị, họ đã chọn những nước khác, Intel chọn Malaysia, IBM chọn Trung Quốc, và Dizyatec chọn Ấn Độ.

Những người như tôi được đưa ra 2 sự lựa chọn, có thể ở lại Việt Nam và không phải giữ cam kết về đào tạo, hoặc theo họ sang Ấn Độ và được đảm bảo rất nhiều quyền lợi. Tôi và một người nữa (hiện tại đang làm chuyên gia ở khu công nghiệp Dung Quất) quyết định ở lại Việt Nam. Tôi quyết định như vậy vì không muốn để ba mẹ già ở nhà một mình. 3 người còn lại sang Ấn Độ, hiện giờ đa số đều thành đạt trong các tập đoàn lớn và mỗi khi có dịp đi nước ngoài tôi vẫn liên lạc với họ.

Dizyatec đi, tôi thành người thất nghiệp. 2 tháng sau tôi đầu quân vào Pyramid Consulting (Pyco) làm việc ở vị trí Web Designer, lúc này công ty chỉ mới là buổi ban đầu – khoảng 20 người – chứ chưa đồ sộ như bây giờ.

Làm việc tại Pyco 2 năm – đúng lúc Pyco đang đi lên. Tôi nhận được lời mời về cùng chung tay xây dựng Apova. Quyết định thử sức mình một lần, tôi chia tay Pyco để bắt đầu một thử thách mới.

Sau một thời gian xây dựng và phát triển, cuối năm 2005, vì nhiều lý do, Apova tan rã. Một lần nữa, tôi thất nghiệp.

Sau khoảng thời gian nằm nhà suy nghĩ, dày vò, trách móc, thất vọng… 2 tháng sau, tôi ngồi dậy và quyết định bắt đầu lại. Sau nhiều cuộc phỏng vấn, tôi đầu quân vào Sony, vị trí Web Marketing Officer. Thời gian làm việc tại Sony tôi đã triển khai nhiều dự dự án quy mô lớn, đa số dự án thành công (duy có một dự án thất bại thãm hại, nhưng với tôi nó là một bài học xứng đáng).

Tháng 3 năm 2007, khi đang làm việc tại Sony, tôi nhận được lời mời từ ngân hàng HSBC – đúng vị trí đang làm tại Sony – Web Marketing. Sau 5 vòng phỏng vấn, tôi được nâng lên vị trí cao hơn PR Senior Officier.

Còn một tháng nữa tôi sẽ chia tay Sony và sang HSBC (là ngân hàng thứ 3 thế giới, và là tập đoàn đứng hàng thứ 5 thế giới), hiện giờ ngồi đây viết những dòng này, nhìn lại bước đường đã đi, tôi ít nhiều tự hào, không phải tự hào về mức lương cao, không tự hào về vị trí công việc… điều tôi tự hào nhất đó là tôi đã luôn không ngừng phấn đấu.

Tương lai của tôi có thể chỉ là một người công nhân, một anh thợ ráp máy tính nếu không có sự miệt mài đó. Còn hiện tại tôi đã có nhà riêng, và tôi chuẩn bị đổi xe hơi, chưa thể gọi là thành đạt, nhưng đó cũng có thể gọi là một thành quả.

Sự miệt mài ấy không phải là vì tôi cần cù, không phải là vì tôi giỏi, mà theo tôi, điều quan trọng nhất đó là tôi đã chọn được đúng lĩnh vực mình yêu thích để dấn thân.

Vì vậy giờ đây khi có một bạn trẻ nào đó hỏi tôi nên chọn nghề nghiệp nào, tôi đều trả lời: Hãy chọn nghề nào mình thật sự yêu thích.

Có thể nghề đó không sang trọng, không giống mọi người, nhưng một khi đã yêu thích, sự miệt mài sẽ chỉ là một cuộc chơi. Thời gian ở Singapore, nếu không có niềm đam mê, không thể nào tôi có thể thức suốt 4 đêm liền để cùng các anh thực hiện một dự án quan trọng cho công ty (dự án này sau đó đã được ban lãnh đạo đánh giá rất cao).

Và con đường đại học cũng không phải là con đường duy nhất, tôi không khuyến khích bạn không học đại học, hay bỏ đại học. Nhưng một khi điều kiện kinh tế, điều kiện bản thân không đủ khả năng để học đại học, hãy mạnh dạn bước đi một con đường khác. Mọi con đường đều có thể dẫn đến thành công nếu chúng ta có đam mê.

Force YIM use another port

Tôi không phải là người hay chat, nhưng gần như thói quen khi vào công ty thường mở Yahoo lên để bạn bè có gì hay thì gọi, hoặc P8 có ăn nhậu gì thì hú… nói chung là có thì cũng không mấy dùng, nhưng không có thì cứ thấy thiếu thiếu khó chịu.

Trước nay IP của tôi là IP được đặc cách được dùng internet trực tiếp, không bị chặn port nào, tự nhiên gần đây, sau khi bên IS setup lại network thì vẫn mở hết, chỉ có điều port 5050 bị chặn, mà chẳng lẽ lại gọi điện kêu mở mỗi cái port 5050 (mà ai cũng biết là dùng để connect YIM). Thế là đành phải mày mò.

Nếu trường hợp của bạn là không thể connect YIM bằng No Proxy hoặc bằng bất cứ kiểu Proxy nào khác. Firewall with no proxy thì được, nhưng msg bị delay khủng khiếp, gần như là vô dụng.

Sau khi scan thử các port mà YIM có thể connect được, tôi phát hiện vẫn còn một port mở, đó là port 23.

Thử telnet vào cs32.msg.dcn.yahoo.com bằng port 23, yeah! connect được, vậy là rõ ràng 23 có mở.

Giờ công việc cần làm là ép Yahoo đi đường 23, trước đây ở phiên bản cũ, khi không connect được port 5050, YIM sẽ tự đi detect các port khác để xem port nào mở mà vào, nhưng chẳng hiểu vì lý do gì mà ở những phiên bản gần đây (8.0.244), YIM chỉ dùng mỗi 5050.

Ban đầu tôi chọn hướng đánh lừa Yahoo, dùng FPipe để chạy nền, đón tất cả dữ liệu đi từ 5050 trên máy local, rồi hướng nó sang 23 của server.

Cú pháp như sau:

fpipe -l 5050 -s 5050 -r 23 43.94.1.254 

Âu kây, vậy là giờ nó đứng dưới nền hứng, giờ việc cần làm là set YIM sang proxy là localhost và đi port 5050. Connect được, chat được, nhưng mà bực mình cái là lâu lâu nó bị crash, chắc do viết không ổn định.

Lại phải quay sang cách truyền thống, bơi trong mớ config của YIM, xem chỗ nó giấu cái port config là ở đâu. Sau khi bơi lặn trong mớ config, cuối cùng tôi tìm ra chỗ nó để config là trong Registry:

HKEY_CURRENT_USER\Software\Yahoo\pager\Port 

Đóng YIM lại, sửa lại giá trị Hex là 17 (tương đương với 23 bên Decimal). Rồi Reconnect lại YIM. Done!!!

Giờ đã có thể vô tư dùng YIM.

Lưu ý: đừng chat quá nhiều trong giờ làm việc, tôi không chịu trách nhiệm nếu bạn bị mất việc vì có liên quan đến bài viết này

My final gear

Hôm nay vừa quyết định lấy về 2 ống kính:

  • Canon 50mm f/1.4 để thay cho ống 50mm f/1.8
  • Canon 100mm f/2.8 macro thay cho ống Tamron 90mm f/2.8 đang xài

Lý do chính tôi đổi sang Canon 100mm macro là Fulltime Manual và USM, còn 50mm f/1.4 thì thật ra đổi chủ yếu là vì không cầm lòng được , lý do chính là để từ nay về sau không lăn tăn nghĩ ngợi gì mỗi khi nghe đến ống 50mm nữa, bỏ ra 300 mấy chục đô để mua sự bình an sau này.

Lý do nghe có vẻ nhãm nhí, nhưng thật ra sau khi lấy ống về tôi thật hài lòng về nó, ống kính rất nét, không… phải gọi là cực nét, và bokeh thì tuyệt đẹp. Để khẩu 3.5 thì ảnh cho ra gần như hoàn hảo.

Vậy cuối cùng bộ đồ của tôi là:

  • Body Canon EOS KissN (350D)
    Đã nhiều lần định nâng cấp lên 20D (đã có lần mua 20D về nhưng sau đó bán đi), 30D thậm chí 5D, nhưng cuối cùng nhìn nhận lại, tôi vẫn thấy hài lòng với cái body 350D này vì khi bình thường muốn đi chụp gắn Grip vào nó cũng chắc tay chứ không đến nỗi, còn khi muốn nhỏ gọn trong trường hợp đi chơi thì tháo grip ra, máy trở nên rất gọn nhẹ (điều này thì các body kia không đáp ứng được). Và cuối cùng là với body này chất lượng ảnh vẫn làm tôi hài lòng, vậy nên cuối cùng tôi vẫn trung thành với 350D.

    >> CẬP NHẬT

  • Body Canon EOS 400D
    Mình vừa nâng cấp lên cái 400D thay cho 350D ở bên trên, lý do chính là cái màn hình của 400D lớn hơn, công nghệ khử bụi trên sensor cùng với lấy nét 9 điểm so với 350D. Có dịp tôi sẽ viết một bài review chi tiết hơn về 400D và sự nâng cấp này.
  • Canon 10-22mm f/3.5-4.5
    Đây là ống kính tôi sử dụng nhiều nhất, và tôi thật sự hài lòng về nó. Đa số trường hợp ống kính này nằm trên body, dùng để chụp phong cảnh, đủ hẹp để có thể chụp lưu niệm khi đi chơi.
  • Canon 50mm f/1.4
    Dùng chủ yếu cho chân dung và trong những điều kiện thiếu sáng. Nhưng chủ yếu là chân dung.
  • Canon 70-200mm f/4 L
    Dùng chủ yếu cho chụp tầm xa, và chân dung, một số trường hợp tôi dùng cho chụp phong cảnh. Nghe có vẻ lạ nhỉ, nhưng trong một số trường hợp, chụp phong cảnh bằng tele sẽ cho ra ảnh rất lạ.
  • Canon 100mm f/2.8 macro
    Chủ yếu là chụp macro (tất nhiên), ngoài ra tôi dùng để chụp chân dung, chủ yếu là chân dung nửa người.
  • Ngoài ra tôi còn có một ống kit Canon 18-55mm f/3.5-5.6 USM, dùng trong trường hợp chụp các hình lưu niệm không cần chất lượng lắm, khi đi chơi tháp grip ra thì body 350D rất nhỏ gọn, tôi có một cái túi đựng vừa đủ body 350D và ống kit này, rất tiện. >> CẬP NHẬT
    Mình đã tặng ống kit này cho một người bạn vì ít khi sử dụng đến do mỗi khi đi chơi thì dùng ống 10-22 nhiều hơn, chụp chân dung bạn bè cũng khá tốt ở 22mm, và đặc biệt là có thể thoải mái chụp phong cảnh.
  • Một thiết bị mới gia nhập là Canon Extensin Tube 25mm, chủ yếu phục vụ cho việc tăng độ phóng đại khi chụp Macro.
  • Về đèn thì tôi dùng Canon Speedlite 430ex, với tôi thì 430ex là đủ, nó đáp ứng được tiêu chí nhỏ gọn cơ động, 580ex có một số ưu điểm hơn, nhưng với tôi thì những ưu điểm đó không quan trọng lắm.
  • Tripod thì tôi dùng kết hợp giữa head Manfrotto 322RC2 vì tính cơ động của nó, cộng với chân Fancier của Trung Quốc, nhiều người khi nhìn vào sự lựa chọn này thường cười, vì cái head mắc gấp 3-4 lần cái chân, nhưng tôi vẫn thấy vui vì chân này rất nhẹ nhàng và dễ mang đi khắp nơi. >> CẬP NHẬT
    Về chân chống thì mình vừa mua một chân mới thay cho cái chân Trung Quốc cũ, đó là cái Slik Pro 400 DX, ưu điểm hơn của chân này là kích thước nhẹ hơn và chắc chắn hơn so với chân Fancier cũ.

Tôi rất hài lòng về những lựa chọn này, và có lẽ sẽ không nâng cấp nữa. Hoặc rất lâu nữa mới nghĩ đến chuyện nâng cấp.

Truy tìm Computer Name dựa trên IP

Có một câu lệnh Dos mà ít người biết dùng để truy tìm Computer Name dựa trên một IP có sẵn, cú pháp như sau:

nbtstat -A xxx.xxx.xxx.xxx

trong đó xxx.xxx.xxx.xxx là địa chỉ IP đã biết

Ảnh số – tiện nghi thời hiện đại

Bài này nguyên gốc được đăng trên báo Ánh sáng đẹp số tháng 10/2006, bản quyền thuộc về tác giả Trung Thu và tạp chí Ánh Sáng Đẹp

Ảnh số – tiện nghi thời hiện đại

Ngày ảnh số ra đời cách nay khoảng hơn mười năm, với những tiến bộ vượt bậc, đã khiến những người vốn rất nghi ngại về chất lượng ảnh sổ, cũng đã phải thay đổi quan niệm của mình.

Tuy nhiên, cũng còn khá nhiều vấn đề, mà nếu không hiểu rõ, chúng ta sẽ khá lúng túng trong khâu hoàn thiện một bức ảnh số.

I. Phim và con chíp ghi hình

Con chíp ghi hình cũng là một loại phim đặc biệt, với những tính năng gần giống như phim nhựa, chỉ khác là phim nhựa phải qua khâu tráng (xử lý hoá chất) mới có thể hiện ra hình ảnh, còn con chip, sau khi nhận hình ảnh, nó liền được số hóa và được biến đổi thành hình ảnh gần như ngay lập tức. Nó cũng có độ nhạy như phim nhựa, nhưng có thể thay đổi trên từng frame chụp, và người ta còn có thể thay đổi tương phản, độ rực màu, độ sắc nét, sự chuyển màu theo nhiệt độ màu…

II. Phòng tối và máy tính

Sau khi chụp xong, phim phải được đem đi tráng, rọi ảnh ở các cơ sở làm ảnh (thường được hiểu là chuyên nghiệp), còn với ảnh số, đa phần chúng ta tự nạp vào máy tính cá nhân, sau đó dùng các phần mềm xử lý ảnh như Photoshop, Corelpaint,…để tự xử lý (rất không chuyên) trước khi đem ra các lab rọi ảnh. Và thế là đã từng có quá nhiều người vội vã kết luận rằng ảnh số không đẹp bằng phim nhựa, mà không hề biết rằng so sánh đó khá khập khiễng, khi mà về bản chất của con chíp, các định dạng lưu ảnh, các phương thức chỉnh màu, các thông số cơ bản, các bộ lọc,… được hiểu một cách mơ hồ. và hầu hết các chỉnh sửa đều dựa theo cảm tính.

III. Những sự khác biệt

1. JPEG – TIFF – RAW

Jpeg là một định dạng phổ thông, hầu như tất cả các máy ảnh số đều có định dạng này (Sigma SD là cá biệt), đây là một định dạng nén có tổn thất, nhưng vì sự thuận tiện, người ta rất thường dùng định dạng này. Do dung lượng lưu trữ sau nén trên thẻ nhớ khá nhỏ, khiến thời gian nạp thẻ ngắn, có thể chụp khá nhiều file liên tiếp, nên rất phù hợp với những người có nhu cầu chụp ảnh nhanh, hay phương tiện lưu trữ không nhiều. Các phóng viên ảnh thường dùng định dạng này, sau khi chụp, ảnh sẽ được gửi ngay về tòa soạn bằng đường internet và bằng những phần mềm giải nén chuyên dụng (có thể có giá đến vài ngàn đô la), nó có thể trở thành những file ảnh chất lượng từ khá tốt đến rất tốt. Do các file ảnh lưu dưới định dạng này thường chỉ ở 8 bit màu có nghĩa là số bước chuyển sắc trên mỗi kênh màu khá thấp, nếu không khéo chỉnh sẽ rất dễ bị hiện tượng bệt màu, hay độ sâu màu không đủ.
Định dạng Tiff được hiểu là không nén hay không tổn thất, nhưng không có nhiều máy ảnh số sử dụng định dạng này, vì đây là một định dạng cho kích thước file ảnh khá lớn, thường thi số bye nhiều khoảng gấp ba lần số pixel. Đây lại là một trở ngại lớn với những ai có nhu cầu chụp ảnh nhanh, vì thời gian nạp thẻ khá dài. Vả lại, đây lại không phải là file ảnh có chất lượng cao nhất, vì cũng chỉ được lưu ở 8 bit màu (trừ các back số cho máy ảnh khổ trung cho phép lưu ở Tiff 16 bit).

Raw là định dạng thô của ảnh, trong đó lưu lại các thông tin màu nguyên thủy của file ảnh, người ta thường gọi định dạng này như là âm bản số (tuy về bản chất, nó không phải thế), và đây thực sự là file ảnh có chất lượng cao nhất của một máy ảnh số. Nó cho phép chuyển đổi sang file Tiff 16 bit màu (dù khả năng của con chip chỉ là 8, 12, hay 14 bit màu) và khi đó, nó nội suy ra một lượng lớn bước chuyển sắc lên đến 65.000 trên một kênh màu, đây là lợi thế lớn trong nhu cầu chỉnh màu mà không bị bệt. Vì đây là một định dạng riêng của từng nhà sản xuất, nên khả năng các phần mềm phổ thông có thể thấy được nó là khó, thậm chí những phiên bản trước cũng không thể nhận thấy file của phiên bản sau dù là của cùng một nhà sản xuất. Những phần mềm tương thích do nhà sản xuất đưa ra là những phần mềm tối ưu để chuyển đổi (convert) từ Raw sang Tiff hay Psd. Những phần mềm phổ thông tuy có thể nhận diện được, có thể chuyển đổi được, nhưng chất lượng hình ảnh không thể tối ưu, vì thông tin về cấu trúc con chíp, về pixel, chỉ có nhà sản xuất có thể hiểu rõ về chúng, và có những giải mã phù hợp. như trường hợp máy Fuji S2, S3 Pro, với cấu trúc Super-CCD, mà chỉ có phần mềm giải mã của chính hãng mới có thể chuyển thành file ảnh có chất lượng tương đương 12Mp, còn các phần mềm khác (như photoshop) chỉ giải mã nó như máy có 6Mp mà thôi. Ngoài ra với S3 Pro, với cấu trúc SRII, nó ghi nhận được cả những thông tin màu vượt ngưỡng khoảng 400%, để bổ sung cho thông tin nền, khiến mở rộng được dãy dynamic range thêm khoảng 2 stops, các phần mềm chuyển đổi khác khó giải mã tốt hiệu ứng của con pixel R này.

2. 8 hay 16 bit màu

Số bit màu là một con số báo cho biết số lượng bước chuyển sắc trên một kênh màu theo bậc lũy thừa của 2. Ví dụ như 1 bit màu sẽ cho ra 21 (chỉ có 2 màu trắng đen), 8 bit màu # 2 mũ 8 = 256 bước chuyển sắc từ vùng sáng nhất sang vùng tối nhất của một kênh màu, và với ba kênh màu, nó sẽ cho ra 256×256x256 = 16.777.216 màu. Đa số các máy ảnh số DSLR đều có ngưỡng ADC (Analog to Digital Converter) là 12 bit màu # 2 mũ 12 = 4096 bước chuyển sắc (cho ra khoảng 65 tỉ màu). Riêng S3 Pro của Fuji, khi đặt ở wide 2 dynamic range, sẽ cho ra Raw 14 bit màu (#16.000 bước chuyển sắc, tức khoảng 4000 tỉ màu). Nên nếu máy của bạn cho phép ghi nhận được 12 bit màu, mà bạn chỉ dùng ở mức 8 bit (Jpeg) thì khá là lãng phí, và ngay cả khi chụp Raw, nhưng lại chuyển đổi ngay sang Tiff 8 bit thì cũng lãng phí không kém. Bạn nên lợi dụng mức chuyển sắc dồi dào của Raw, mà chuyển qua 16 bit, rồi sau khi đã chỉnh sửa màu xong, bấy giờ mới chuyển sang 8 bit để lưu trữ hay đem đi rọi ảnh.

3. Cân bằng trắng

Chức năng tự động cân bằng trắng (AWB) có ở hầu hết các máy ảnh số, đáp ứng khá tốt mọi tình huống ánh sáng, chỉ khi nào bạn dùng đèn flash, bạn cần dùng chức năng tùy ý, hay đơn gi
ản hơn, bạn chỉ cần chuyển qua phần mặt trời sáng (bright sun), vì hầu hết các đèn flash đều có nhiệt độ màu tương đương 5000 – 6000oK. Một cách làm đơn giản mà khá hiệu quả, là dùng chế độ mặt trời sáng cho mọi tình huống, hiệu quả đạt được sẽ khá giống như những gì bạn có được khi chụp với phim daylight âm bản hay dương bản.

4. Ống kính và tiêu cự

Những ống kính dùng cho máy ảnh số có những đặc điểm riêng, mà chủ yếu là do con chip có lớp kính lọc khử răng cưa (anti aliasing filter, low pass filter), rất bóng, có độ phản chiếu cao, tạo ra sự phản xạ thứ cấp trên các lớp thấu kính vùng đuôi của ống kính. Chính vì vấn đề này mà các hãng sản xuất ống kính vội vã cải tiến các ống kính chụp phim của mình, hầu hết là tăng cường các lớp phủ chống lóe trên các thấu kính phần đuôi của ống kính, như hãng Sigma đưa ra các cải tiến trên các dòng DG, DC, Tamron đưa ra dòng Di, Di II,…Các tiêu cự cũng có những ảnh hưởng nhất định do kích thước con chíp thường nhỏ hơn mặt phim nhựa (trừ Canon EOS 1Ds, 1Ds Mark II, 5D, Kodak DCS 14 N,…) nên tiêu cự thường được nhân lên một hệ số nhất định để có góc nhìn tương ứng với phim 135mm. Như Nikon, Fujifilm FinePix, Pentax, Konica Minolta (nay là Sony Alpha) có hệ số nhân tiêu cự là 1,5, Olympus nhân 2, Canon EOS 1D, 1D Mark II (N) nhân 1,3, các EOS khác đều nhân 1,6, Sigma SD 9, SD 10 nhân 1,7. Cần chú ý một số loại ống kính được sản xuất chủ yếu để dùng cho các máy ảnh số có con chip có kích thước APS (khoảng 15×25mm), sẽ không thể dùng cho các máy ảnh số có con chíp lớn hơn, vì góc phủ (covering power) không đủ.

5. Levels và Curves

Level là công cụ chỉnh màu quan trọng đầu tiên, dùng định ngưỡng vùng sáng nhất, vùng tối nhất, và chọn ngưỡng sáng cho vùng giữa. Những lệch màu trong quá trình chụp cũng được hiệu chỉnh trong giai đoạn này (trên từng kênh màu). Bấm thêm Alt trong quá trình kéo con trượt sẽ giúp nhận định kết quả tốt hơn.

Dùng Curves để chọn mức tương phản vùng giữa. Mặc dù khi kéo chân của dây cung, người ta cũng có thể định ngưỡng cho các vùng sáng tối, nhưng không hiệu quả tốt bằng Levels. Hết sức thận trọng trong tình huống kéo dây cung quá cong, dễ làm dãn không gian màu quá đáng (bệt màu), có thể chọn làm động tác Curves lần hai, lần ba.

6. Shadows – Highlight

Đây là công cụ khá tuyệt vời để cứu thông tin vùng tối, những lỗi kỹ thuật trong quá trình chụp, hoặc do muốn bảo tồn chi tiết vùng sáng. Trong quá trình hiệu chỉnh, những lỗi về tương phản, cũng như độ rực màu đều có thể được hiệu chỉnh lại cho phù hợp.

7. Image Size

Độ phân giải hình ảnh nó vốn ở sẵn trong con chip khi được sản xuất ra. Đó chính là kích thước ngang, dọc tính bằng số pixel trên con chíp. Sau đó, liên quan đến thiết bị đầu xuất, người ta định số điểm trên một inch (dpi), từ đó ra kích thước hình ảnh tính bằng inches. Như hầu hết các thiết bị đầu xuất chọn 300dpi, với file ảnh có kích thước 4200×2800, chúng ta sẽ có (4200/300) X( 2800/300) = 14×9,3 inch (#24×36cm). Đây được xem như kích thước file ảnh gốc của một máy ảnh số. Khi cần phóng to hơn hay thu nhỏ lại, chúng ta dùng công cụ Impage size, và nhớ một nguyên tắc là: khi phóng to, ta nên dùng phần lấy mẫu (resample) ở tùy chọn Bicubic smoother, để làm mềm các vùng chi tiết, giúp giảm nhiễu và ta sẽ tăng cường nét sau. Còn khi thu nhỏ hình ảnh, ta chon Bicubic sharper, để tăng nét trong quá trình thu nhỏ (điều này rất khác với phim nhựa, càng thu nhỏ thì hình càng nét), vì khi thu nhỏ đó cũng là một sự nội suy để loại bỏ bớt điểm, chứ không phải là quy trình nén điểm.

8. Sharpen

Đây là bộ lọc tạo tương phản vùng rìa của chi tiết, tạo cảm giác sắc nét thêm cho hình ảnh. Những bộ lọc như Sharpen, Unsharp mask, High pass filter,…dùng đều tốt, nhưng cần biết ngưỡng vừa phải, khi làm sắc nét quá đáng, sẽ để lại những đường viền trắng (trong Unsharp mask, trị số Radius thường trong khoảng 1 đến 1,5, trị số Amount thường chọn dưới 200). High pass là một bộ lọc làm tăng nét trên lớp copy, nên có thể làm lại bất kỳ lúc nào.

9. RGB – CMYK – Gray Scale

RGB là không gian màu thông dụng, từ web đến lab rọi ảnh, trong đó có chia ra: sRGB, Adobe RGB 1998, Pro Photo,…sRGB là không gian màu chung của hầu hết các lab rọi ảnh, nó đáp ứng tốt trên nền giấy ảnh rọi. Adobe RGB 1998 là không gian màu rộng hơn, nó cho phép tái hiện được cả những màu mà các lab rọi ảnh không thể có được trên ảnh, đây là không gian màu chủ yếu để chuyển đổi sang CMYK (dùng trong in mức, in offset,…), tuy có mất một ít màu, nhưng tốt hơn từ sRGB chuyển sang CMYK khá nhiều. Vì Adobe RGB chuyển bao phủ gần như trọn vẹn không gian màu của CMYK, trong khi sRGB lại có một số vùng giao với CMYK, nghĩa là sẽ mất một số vùng màu khi chuyển đổi qua lại với nhau. Gray scale là dạng ảnh thang xám, còn gọi là trắng đen, chỉ có một kênh màu duy nhất, với sắc độ chuyển từ đen nhất sang trắng nhất, với các sắc xám trung gian, khó sử dụng tương thích với thiết bị đầu xuất, hầu hết trường hợp nên chuyển qua RGB (sau khi đã chuyển qua Gray scale), khi đó, các thông số màu trên ba kênh có cùng trị số ở mọi vị trí, sẽ phù hợp với các lab rọi ảnh khi cần xuất ảnh trắng đen.

10. Information – Histogram

Trên mỗi vị trí của hình ảnh đều có những thông số báo cho biết các trị số của từng kênh màu (RGB hay CMYK). Với không gian màu RGB, chúng ta cần dùng bảng thông số màu (information) để kiểm soát chi tiết vùng sáng, chi tiết vùng tối, các mảng màu trung gian. Cụ thể, như với vùng sáng, không nên để vượt ngưỡng 250 trên cả ba kênh, dù cá biệt có thể có kênh vượt lên 252-253, nhưng nếu cả ba kênh đều vượt đến ngưỡng này sẽ khiến hình mất chi tiết vùng sáng. Tương tự, vùng tối không nên để cho vượt ngưỡng dưới 10, nếu không sẽ mất chi tiết vùng tối. Với không gian màu CMYK, vùng trắng nên để các thông số dưới 10, và tổng số mức nơi vùng này nên dưới 15%, vùng đen nên để các thông số khoảng 75, tổng số mực khoảng 300% (với không gian màu (SWOP) v2).

Histogram là biểu đồ thông tin màu, nó cũng có giá trị như các thông số màu, nó hình tượng hóa các thông số, giúp ta dễ cảm nhận được giá trị của từng kênh màu. Cả hai có tác dụng như kim chỉ nam, giúp ta định hướng trong khâu chỉnh màu./.