Ảnh số – tiện nghi thời hiện đại

Bài này nguyên gốc được đăng trên báo Ánh sáng đẹp số tháng 10/2006, bản quyền thuộc về tác giả Trung Thu và tạp chí Ánh Sáng Đẹp

Ảnh số – tiện nghi thời hiện đại

Ngày ảnh số ra đời cách nay khoảng hơn mười năm, với những tiến bộ vượt bậc, đã khiến những người vốn rất nghi ngại về chất lượng ảnh sổ, cũng đã phải thay đổi quan niệm của mình.

Tuy nhiên, cũng còn khá nhiều vấn đề, mà nếu không hiểu rõ, chúng ta sẽ khá lúng túng trong khâu hoàn thiện một bức ảnh số.

I. Phim và con chíp ghi hình

Con chíp ghi hình cũng là một loại phim đặc biệt, với những tính năng gần giống như phim nhựa, chỉ khác là phim nhựa phải qua khâu tráng (xử lý hoá chất) mới có thể hiện ra hình ảnh, còn con chip, sau khi nhận hình ảnh, nó liền được số hóa và được biến đổi thành hình ảnh gần như ngay lập tức. Nó cũng có độ nhạy như phim nhựa, nhưng có thể thay đổi trên từng frame chụp, và người ta còn có thể thay đổi tương phản, độ rực màu, độ sắc nét, sự chuyển màu theo nhiệt độ màu…

II. Phòng tối và máy tính

Sau khi chụp xong, phim phải được đem đi tráng, rọi ảnh ở các cơ sở làm ảnh (thường được hiểu là chuyên nghiệp), còn với ảnh số, đa phần chúng ta tự nạp vào máy tính cá nhân, sau đó dùng các phần mềm xử lý ảnh như Photoshop, Corelpaint,…để tự xử lý (rất không chuyên) trước khi đem ra các lab rọi ảnh. Và thế là đã từng có quá nhiều người vội vã kết luận rằng ảnh số không đẹp bằng phim nhựa, mà không hề biết rằng so sánh đó khá khập khiễng, khi mà về bản chất của con chíp, các định dạng lưu ảnh, các phương thức chỉnh màu, các thông số cơ bản, các bộ lọc,… được hiểu một cách mơ hồ. và hầu hết các chỉnh sửa đều dựa theo cảm tính.

III. Những sự khác biệt

1. JPEG – TIFF – RAW

Jpeg là một định dạng phổ thông, hầu như tất cả các máy ảnh số đều có định dạng này (Sigma SD là cá biệt), đây là một định dạng nén có tổn thất, nhưng vì sự thuận tiện, người ta rất thường dùng định dạng này. Do dung lượng lưu trữ sau nén trên thẻ nhớ khá nhỏ, khiến thời gian nạp thẻ ngắn, có thể chụp khá nhiều file liên tiếp, nên rất phù hợp với những người có nhu cầu chụp ảnh nhanh, hay phương tiện lưu trữ không nhiều. Các phóng viên ảnh thường dùng định dạng này, sau khi chụp, ảnh sẽ được gửi ngay về tòa soạn bằng đường internet và bằng những phần mềm giải nén chuyên dụng (có thể có giá đến vài ngàn đô la), nó có thể trở thành những file ảnh chất lượng từ khá tốt đến rất tốt. Do các file ảnh lưu dưới định dạng này thường chỉ ở 8 bit màu có nghĩa là số bước chuyển sắc trên mỗi kênh màu khá thấp, nếu không khéo chỉnh sẽ rất dễ bị hiện tượng bệt màu, hay độ sâu màu không đủ.
Định dạng Tiff được hiểu là không nén hay không tổn thất, nhưng không có nhiều máy ảnh số sử dụng định dạng này, vì đây là một định dạng cho kích thước file ảnh khá lớn, thường thi số bye nhiều khoảng gấp ba lần số pixel. Đây lại là một trở ngại lớn với những ai có nhu cầu chụp ảnh nhanh, vì thời gian nạp thẻ khá dài. Vả lại, đây lại không phải là file ảnh có chất lượng cao nhất, vì cũng chỉ được lưu ở 8 bit màu (trừ các back số cho máy ảnh khổ trung cho phép lưu ở Tiff 16 bit).

Raw là định dạng thô của ảnh, trong đó lưu lại các thông tin màu nguyên thủy của file ảnh, người ta thường gọi định dạng này như là âm bản số (tuy về bản chất, nó không phải thế), và đây thực sự là file ảnh có chất lượng cao nhất của một máy ảnh số. Nó cho phép chuyển đổi sang file Tiff 16 bit màu (dù khả năng của con chip chỉ là 8, 12, hay 14 bit màu) và khi đó, nó nội suy ra một lượng lớn bước chuyển sắc lên đến 65.000 trên một kênh màu, đây là lợi thế lớn trong nhu cầu chỉnh màu mà không bị bệt. Vì đây là một định dạng riêng của từng nhà sản xuất, nên khả năng các phần mềm phổ thông có thể thấy được nó là khó, thậm chí những phiên bản trước cũng không thể nhận thấy file của phiên bản sau dù là của cùng một nhà sản xuất. Những phần mềm tương thích do nhà sản xuất đưa ra là những phần mềm tối ưu để chuyển đổi (convert) từ Raw sang Tiff hay Psd. Những phần mềm phổ thông tuy có thể nhận diện được, có thể chuyển đổi được, nhưng chất lượng hình ảnh không thể tối ưu, vì thông tin về cấu trúc con chíp, về pixel, chỉ có nhà sản xuất có thể hiểu rõ về chúng, và có những giải mã phù hợp. như trường hợp máy Fuji S2, S3 Pro, với cấu trúc Super-CCD, mà chỉ có phần mềm giải mã của chính hãng mới có thể chuyển thành file ảnh có chất lượng tương đương 12Mp, còn các phần mềm khác (như photoshop) chỉ giải mã nó như máy có 6Mp mà thôi. Ngoài ra với S3 Pro, với cấu trúc SRII, nó ghi nhận được cả những thông tin màu vượt ngưỡng khoảng 400%, để bổ sung cho thông tin nền, khiến mở rộng được dãy dynamic range thêm khoảng 2 stops, các phần mềm chuyển đổi khác khó giải mã tốt hiệu ứng của con pixel R này.

2. 8 hay 16 bit màu

Số bit màu là một con số báo cho biết số lượng bước chuyển sắc trên một kênh màu theo bậc lũy thừa của 2. Ví dụ như 1 bit màu sẽ cho ra 21 (chỉ có 2 màu trắng đen), 8 bit màu # 2 mũ 8 = 256 bước chuyển sắc từ vùng sáng nhất sang vùng tối nhất của một kênh màu, và với ba kênh màu, nó sẽ cho ra 256×256x256 = 16.777.216 màu. Đa số các máy ảnh số DSLR đều có ngưỡng ADC (Analog to Digital Converter) là 12 bit màu # 2 mũ 12 = 4096 bước chuyển sắc (cho ra khoảng 65 tỉ màu). Riêng S3 Pro của Fuji, khi đặt ở wide 2 dynamic range, sẽ cho ra Raw 14 bit màu (#16.000 bước chuyển sắc, tức khoảng 4000 tỉ màu). Nên nếu máy của bạn cho phép ghi nhận được 12 bit màu, mà bạn chỉ dùng ở mức 8 bit (Jpeg) thì khá là lãng phí, và ngay cả khi chụp Raw, nhưng lại chuyển đổi ngay sang Tiff 8 bit thì cũng lãng phí không kém. Bạn nên lợi dụng mức chuyển sắc dồi dào của Raw, mà chuyển qua 16 bit, rồi sau khi đã chỉnh sửa màu xong, bấy giờ mới chuyển sang 8 bit để lưu trữ hay đem đi rọi ảnh.

3. Cân bằng trắng

Chức năng tự động cân bằng trắng (AWB) có ở hầu hết các máy ảnh số, đáp ứng khá tốt mọi tình huống ánh sáng, chỉ khi nào bạn dùng đèn flash, bạn cần dùng chức năng tùy ý, hay đơn gi
ản hơn, bạn chỉ cần chuyển qua phần mặt trời sáng (bright sun), vì hầu hết các đèn flash đều có nhiệt độ màu tương đương 5000 – 6000oK. Một cách làm đơn giản mà khá hiệu quả, là dùng chế độ mặt trời sáng cho mọi tình huống, hiệu quả đạt được sẽ khá giống như những gì bạn có được khi chụp với phim daylight âm bản hay dương bản.

4. Ống kính và tiêu cự

Những ống kính dùng cho máy ảnh số có những đặc điểm riêng, mà chủ yếu là do con chip có lớp kính lọc khử răng cưa (anti aliasing filter, low pass filter), rất bóng, có độ phản chiếu cao, tạo ra sự phản xạ thứ cấp trên các lớp thấu kính vùng đuôi của ống kính. Chính vì vấn đề này mà các hãng sản xuất ống kính vội vã cải tiến các ống kính chụp phim của mình, hầu hết là tăng cường các lớp phủ chống lóe trên các thấu kính phần đuôi của ống kính, như hãng Sigma đưa ra các cải tiến trên các dòng DG, DC, Tamron đưa ra dòng Di, Di II,…Các tiêu cự cũng có những ảnh hưởng nhất định do kích thước con chíp thường nhỏ hơn mặt phim nhựa (trừ Canon EOS 1Ds, 1Ds Mark II, 5D, Kodak DCS 14 N,…) nên tiêu cự thường được nhân lên một hệ số nhất định để có góc nhìn tương ứng với phim 135mm. Như Nikon, Fujifilm FinePix, Pentax, Konica Minolta (nay là Sony Alpha) có hệ số nhân tiêu cự là 1,5, Olympus nhân 2, Canon EOS 1D, 1D Mark II (N) nhân 1,3, các EOS khác đều nhân 1,6, Sigma SD 9, SD 10 nhân 1,7. Cần chú ý một số loại ống kính được sản xuất chủ yếu để dùng cho các máy ảnh số có con chip có kích thước APS (khoảng 15×25mm), sẽ không thể dùng cho các máy ảnh số có con chíp lớn hơn, vì góc phủ (covering power) không đủ.

5. Levels và Curves

Level là công cụ chỉnh màu quan trọng đầu tiên, dùng định ngưỡng vùng sáng nhất, vùng tối nhất, và chọn ngưỡng sáng cho vùng giữa. Những lệch màu trong quá trình chụp cũng được hiệu chỉnh trong giai đoạn này (trên từng kênh màu). Bấm thêm Alt trong quá trình kéo con trượt sẽ giúp nhận định kết quả tốt hơn.

Dùng Curves để chọn mức tương phản vùng giữa. Mặc dù khi kéo chân của dây cung, người ta cũng có thể định ngưỡng cho các vùng sáng tối, nhưng không hiệu quả tốt bằng Levels. Hết sức thận trọng trong tình huống kéo dây cung quá cong, dễ làm dãn không gian màu quá đáng (bệt màu), có thể chọn làm động tác Curves lần hai, lần ba.

6. Shadows – Highlight

Đây là công cụ khá tuyệt vời để cứu thông tin vùng tối, những lỗi kỹ thuật trong quá trình chụp, hoặc do muốn bảo tồn chi tiết vùng sáng. Trong quá trình hiệu chỉnh, những lỗi về tương phản, cũng như độ rực màu đều có thể được hiệu chỉnh lại cho phù hợp.

7. Image Size

Độ phân giải hình ảnh nó vốn ở sẵn trong con chip khi được sản xuất ra. Đó chính là kích thước ngang, dọc tính bằng số pixel trên con chíp. Sau đó, liên quan đến thiết bị đầu xuất, người ta định số điểm trên một inch (dpi), từ đó ra kích thước hình ảnh tính bằng inches. Như hầu hết các thiết bị đầu xuất chọn 300dpi, với file ảnh có kích thước 4200×2800, chúng ta sẽ có (4200/300) X( 2800/300) = 14×9,3 inch (#24×36cm). Đây được xem như kích thước file ảnh gốc của một máy ảnh số. Khi cần phóng to hơn hay thu nhỏ lại, chúng ta dùng công cụ Impage size, và nhớ một nguyên tắc là: khi phóng to, ta nên dùng phần lấy mẫu (resample) ở tùy chọn Bicubic smoother, để làm mềm các vùng chi tiết, giúp giảm nhiễu và ta sẽ tăng cường nét sau. Còn khi thu nhỏ hình ảnh, ta chon Bicubic sharper, để tăng nét trong quá trình thu nhỏ (điều này rất khác với phim nhựa, càng thu nhỏ thì hình càng nét), vì khi thu nhỏ đó cũng là một sự nội suy để loại bỏ bớt điểm, chứ không phải là quy trình nén điểm.

8. Sharpen

Đây là bộ lọc tạo tương phản vùng rìa của chi tiết, tạo cảm giác sắc nét thêm cho hình ảnh. Những bộ lọc như Sharpen, Unsharp mask, High pass filter,…dùng đều tốt, nhưng cần biết ngưỡng vừa phải, khi làm sắc nét quá đáng, sẽ để lại những đường viền trắng (trong Unsharp mask, trị số Radius thường trong khoảng 1 đến 1,5, trị số Amount thường chọn dưới 200). High pass là một bộ lọc làm tăng nét trên lớp copy, nên có thể làm lại bất kỳ lúc nào.

9. RGB – CMYK – Gray Scale

RGB là không gian màu thông dụng, từ web đến lab rọi ảnh, trong đó có chia ra: sRGB, Adobe RGB 1998, Pro Photo,…sRGB là không gian màu chung của hầu hết các lab rọi ảnh, nó đáp ứng tốt trên nền giấy ảnh rọi. Adobe RGB 1998 là không gian màu rộng hơn, nó cho phép tái hiện được cả những màu mà các lab rọi ảnh không thể có được trên ảnh, đây là không gian màu chủ yếu để chuyển đổi sang CMYK (dùng trong in mức, in offset,…), tuy có mất một ít màu, nhưng tốt hơn từ sRGB chuyển sang CMYK khá nhiều. Vì Adobe RGB chuyển bao phủ gần như trọn vẹn không gian màu của CMYK, trong khi sRGB lại có một số vùng giao với CMYK, nghĩa là sẽ mất một số vùng màu khi chuyển đổi qua lại với nhau. Gray scale là dạng ảnh thang xám, còn gọi là trắng đen, chỉ có một kênh màu duy nhất, với sắc độ chuyển từ đen nhất sang trắng nhất, với các sắc xám trung gian, khó sử dụng tương thích với thiết bị đầu xuất, hầu hết trường hợp nên chuyển qua RGB (sau khi đã chuyển qua Gray scale), khi đó, các thông số màu trên ba kênh có cùng trị số ở mọi vị trí, sẽ phù hợp với các lab rọi ảnh khi cần xuất ảnh trắng đen.

10. Information – Histogram

Trên mỗi vị trí của hình ảnh đều có những thông số báo cho biết các trị số của từng kênh màu (RGB hay CMYK). Với không gian màu RGB, chúng ta cần dùng bảng thông số màu (information) để kiểm soát chi tiết vùng sáng, chi tiết vùng tối, các mảng màu trung gian. Cụ thể, như với vùng sáng, không nên để vượt ngưỡng 250 trên cả ba kênh, dù cá biệt có thể có kênh vượt lên 252-253, nhưng nếu cả ba kênh đều vượt đến ngưỡng này sẽ khiến hình mất chi tiết vùng sáng. Tương tự, vùng tối không nên để cho vượt ngưỡng dưới 10, nếu không sẽ mất chi tiết vùng tối. Với không gian màu CMYK, vùng trắng nên để các thông số dưới 10, và tổng số mức nơi vùng này nên dưới 15%, vùng đen nên để các thông số khoảng 75, tổng số mực khoảng 300% (với không gian màu (SWOP) v2).

Histogram là biểu đồ thông tin màu, nó cũng có giá trị như các thông số màu, nó hình tượng hóa các thông số, giúp ta dễ cảm nhận được giá trị của từng kênh màu. Cả hai có tác dụng như kim chỉ nam, giúp ta định hướng trong khâu chỉnh màu./.

table .vs. div / web standard

Vừa hoàn thành xong SonyHF, và đây có lẽ là dự án cuối cùng mình sẽ làm dựa trên công nghệ này, một công nghệ mà mình đã sử dụng suốt 5 năm qua, nhưng nay nó đã không còn phù hợp trong thời đại này nữa. Kiểu làm web dựa trên table.

Nhớ lại khi trên thế giới vừa xuất hiện một số khái niệm về việc sử dụng div, mình đã tranh cãi không mỏi mệt trên diễn đàn DA về vấn đề này, lúc ấy chưa hề có từ AJAX, và những kẻ dùng div thường bị nhìn theo kiểu nửa con mắt, kiểu như tự dùng dây trói mình làm khó mình. Lúc ấy rất nhiều quan điểm cho rằng Table sẽ cố định vị trí các thành tố trên một website đơn giản hơn, và lập luận theo kiểu những gì Div làm được thì Table cũng có thể làm được.

Thực tế đã chứng minh điều ngược lại, xu hướng thế giới ngày càng chuyển sang sử dụng div nhiều hơn vì những lợi thế không thể tranh cãi. Các mối quan hệ chằng chịt trong những ứng dựng web ngày nay (một số người gọi đó là thế hệ web 2.0 – mình thì chẳng quan tâm lắm đến cái tên), đòi hỏi một cấu trúc mạnh hơn, uyển chuyển hơn, và table không thể là điều đó.

Web Designer đã từng như thế nào?

Một thời gian dài ở Việt Nam, chức danh Web Designer đã xuống cấp quá mức, nhớ thời điểm khi mình vừa về nước, khi ấy như là thời hoàng kim của web – lúc này là information web, và việc làm web khi ấy thực sự là một nghệ thuật, một công trình. Nhưng dần dần, nhà nhà làm web, người người làm web, một vài người đi học vài lớp trung cấp design, học thêm một số chương trình thiết kế, học thêm FrontPage, Dreamweaver hoặc ai nhìn xa hơn một tí thì học HTML. Thế là về làm một hai cái web, nhận được một vài dự án vài trăm đô, hoặc thậm chí là vài triệu, và rồi tự xem mình là một web designer. Người ta quên đi một điều căn bản, đó là người ta đang đi từ trên ngọn xuống.

Tiếp theo trào lưu đó là sự ra đời của những công ty làm web 1 triệu – 1 triệu đồng – chưa đến $100 cho một cái web. Nhưng thật sự đó có phải là một trang web đúng nghĩa hay không thì chắc ai cũng đã có câu trả lời.

Nền tảng của công việc này rất rộng, có thể tạm gọi là không ai có thể nắm hết. Để thiết kế một web site, một ứng dụng web đâu chỉ biết Photoshop, HTML, CSS, PHP, MySQL… Tất cả đó chỉ là công cụ, điều quan trọng nằm ở đôi tay người sử dụng những công cụ ấy. Việc đi từ ngọn xuống không khác gì hành động tự lừa dối mình.

Đã có lúc khi nói ra công việc Web Designer, mọi người hiểu rằng đó là một công việc mà ai cũng có thể làm được, chỉ cần bỏ vài triệu đi học vài khóa “thiết kế web” là có thể làm được.

Vậy thực chất Web Designer / HTML Designer là gì?

Khó! Rất khó, trong thời điểm hiện nay, chỉ mỗi việc nhìn nhận đúng, hiểu đúng định nghĩa của 2 công việc này cũng đã có rất nhiều người không thấu đáo được. Và thời điểm đào thải cũng đang đến, ai không thích ứng được, người đó sẽ tự đặt mình đứng ngoài cuộc chơi.

Còn nhớ lần đầu tiên sử dụng Gmail, mình đã viewsource ngay, và biết tương lai rồi mình sẽ phải chuyển hướng, trong lịch sử đã chứng kiến nhiều lần chuyển hướng như thế.

Thay đổi

Thay đổi, chấp nhận cái mới. Điều đó là rất khó, khó hơn nhiều so với ta suy nghĩ. Thà rằng học từ đầu một điều hoàn toàn mới, còn khi thay đổi, nghĩa là ta phải đứng trước sự phân tích, đấu tranh…

Đặc biệt khi chúng ta đã quá thuần thục với cái cũ, dần dà nó trở thành một điều chân lý, và khi ai đó đưa ra một cái mới, đặc biệt cái mới đó lại là công cụ để đưa đến mục tiêu cũ, chúng ta sẽ tự hỏi: tại sao lại thay đổi, tại sao cái mới lại tốt hơn, trong khi cái cũ có thể giải quyết tốt những gì mình cần.

Nhưng nhìn bao quát hơn, đó chỉ là ngụy biện, đó là do ta không dám bắt đầu lại từ đầu. Ta ngại lại phải xuất phát ở điểm số 0 một lần nữa, nhưng thật chất ta hoàn toàn không xuất phát ở điểm số 0, mà là rất xa điểm số 0, vì ta đã có nền tảng vững chắc về cái cũ, và ta sẽ biết chắc lọc ở cái mới, và điều tuyệt vời nhất là ta có thể tận dụng những ưu điểm của cả cái cũ và cái mới nếu chúng ta đi đúng hướng, thế thì lý do gì chúng ta ngại thay đổi.

Đến lúc này để thay đổi, với mình cũng là chậm, nhưng dù sao mình cũng đã có một số tâm lý chuẩn bị. Và mình biết xung quanh đây, mọi người cũng đang âm thầm chuyển mình.

Bỗng nhiên nhớ lại lời của thầy Brandy trong lễ trao bằng: “Công việc chúng ta đang làm như đứng trên một khối núi đang lớn rất nhanh, chúng ta có nhiệm vụ hiểu rõ hòn đá chúng ta đang đứng, nhưng nếu thất nó sắp đổ, chúng ta phải biết vứt bỏ nó để nhảy sang hòn đá khác. Và những gì các bạn học hôm nay, một ngày nào đó sẽ vứt bỏ hết, chỉ mong các bạn hãy luôn học hỏi, và hãy dám vứt bỏ những điều tôi đã dạy các bạn trong hơn 1 năm qua”.

Cần Thơ – Long Xuyên ẩm thực ký sự

Vừa trở về sau chuyến công tác 2 ngày ở Cần Thơ và Long Xuyên. Đây là chặng cuối của chuyến tham khảo thị trường xuyên Việt. Vì là chuyến đi công tác, lại trong thời gian gấp nên cũng chẳng có gì đặc biệt, công việc thì vẫn là đi thăm dò ý kiến và thị hiếu của người tiêu dùng về mặt hàng điện tử. Để mà viết thì ấn tượng nhất có lẽ là phần… ăn uống. Trên xe có anh Bằng, trước đây đã từng là Sales ở khu vực Mekong Delta nên rất rành những quán ăn ngon bổ rẻ.

Bắt đầu đi là 7 giờ sáng, đi chỉ có vài người mà cả một chiếc xe 12 chỗ nên chỗ ngồi rất rộng, điểm dừng chân đầu tiên để ăn sáng là Long An. Quán là một tiệm hủ tíu nhìn rất bình dân, không nhớ nổi địa chỉ nhưng chỉ nhớ là nó nằm ngay cạnh một nhà hàng tên là Mái Lá. Hủ tíu ở đây nấu rất ngon, nước nấu bằng xương nên ngọt.

1 giờ chiều thì đến Cần Thơ, mọi người quyết định đi ăn cơm tấm, quán cơm nghe đâu là một quán rất nổi tiếng ở Cần Thơ, quán nằm trong một con hẻm nhỏ, xe hơi phải đậu ở bên ngoài. Cơm ở đây nấu rất ngon, đặc biệt là món sườn nướng, thơm lừng và béo ngậy… Mỗi người làm một dĩa lớn cộng thêm một đĩa gà nướng và một tô canh cánh gà. Đúng là chất lượng, ăn xong ai cũng khen.

Xong bữa trưa thì mọi người quay về văn phòng, văn phòng Sony Cần Thơ to và khang trang hơn văn phòng ở Đà Nẵng. Ở đây ngoài anh Dũng ra mình cũng chưa biết ai. Ghé văn phòng chuẩn bị tài liệu xong là bắt tay vào việc, phỏng vấn người 1, người 2, người 3, có dịp mình sẽ viết đầy đủ hơn về cái vụ phỏng vấn này, bây giờ đang lạm bàn về ăn uống nên tạm thời bỏ qua.

Xong xuôi công việc, chạy qua Sony Center Cần Thơ, vào ngó nghiêng hỏi thăm một lúc sau đó đi lòng vòng ra ngoài. Sony Center Cần Thơ nằm ngay cạnh một trung tâm thương mại, thôi thì đi lên tham khảo một vòng. Đi lòng vòng một lúc, các mặt hàng cũng tương tự như Coop Mart ở Sài Gòn, nhưng ít hơn. Đi đến tầng 3 thì thấy một quán chè, vào ăn thử vì cũng từ lâu nghe tiếng chè Cần Thơ, tuy nhiên không ngờ chè lại ngon hơn cả sự tưởng tượng của mình, chè hạt sen, ngọt thanh và rất thơm, nhất định có dịp mình sẽ quay lại đây.

Hơn 4 giờ chiều thì lên đường sang Long Xuyên, thời gian khít khao cứ như đi ăn cướp. Đoạn đường từ Cần Thơ sang Long Xuyên chỉ khoảng 60km, vậy mà đi gần 2 tiếng, do đường nhỏ và có đoạn quá xấu.

Gần 7h thì đến Long Xuyên, phòng được đặt trước ở khách sạn Kim Thanh, nhìn lên trên thì thấy có được 3 ngôi sao nhưng chưa biết chất lượng phòng thế nào. Check-in lên phòng, phòng tiện nghi cũng khá tốt, có bồn tắm, máy lạnh, truyền hình cáp đủ cả (nhưng tiếc là truyền hình cáp chỉ mở được vài đài).

Nằm nghỉ một lúc thì mọi người hẹn 7h đi xuống ăn tối. Đi bộ khoảng 500m thì đến một quán ăn theo kiểu dân dã – nhưng lại nằm ngay trung tâm thành phố. Thức ăn ở quán này hầu hết với mìnhcái gì cũng ngon, mỗi tội làm rất lâu. Mọi người kêu rất nhiều món, không nhớ hết nổi, chỉ nhớ một số món ấn tượng.

Đầu tiên là chuột đồng quay, không biết họ tìm đâu ra những con chuột mà to bằng bắp tay. Quay cực thơm, da giòm rụm. Mình trước nay chỉ dám ăn thịt chuột ở quê, trên TP không bao giờ dám ăn do thường được cảnh báo chỉ toàn chuột cống.

Món thứ 2 là món gà nướng lu, cũng không biết tả thế nào, tóm lại là ngon, rất ngon. Nhưng đặc biệt phải nói là món cuối – món cháo cua đồng, lúc ăn đến món này là mọi người đã no lắm rồi sau một loạt các món chuột, bánh xèo, giun dế kiến gián đủ cả, thế mà ăn đến cháo này vẫn thấy ngon, vẫn ăn mạnh miệng. Trong cháo có cua đâm nhuyễn, ăn chung với bông điên điển, thơm lừng.

Có cái đặc biệt nữa là hôm đó là đúng trung thu, nhà hàng tổ chức trúng thưởng, trò chơi là một khay bánh trung thu khá lớn, mỗi bàn sẽ đoán trọng lượng của chiếc bánh, bàn nào đoán gần đúng nhất sẽ thắng. Chẳng hiểu quay đi quay lại thế nào mà anh Bằng đoán trúng y (sai chỉ có 0.25g so với trọng lượng thật) .

Thế là lại được giải nhất là 1/2 chiếc bánh trung thu rất lớn và 1/2 con heo sữa quay. Sỡ dĩ còn có 1/2 là vì có một bàn khác cũng đoán y chang bàn mình, thế là giải thưởng phải chia đôi, tuy nhiên vẫn nhiều vô số.

Khi quán mang 2 đĩa heo sữa ra thì ai cũng nhìn lắc đầu, không cách nào nuốt nổi nữa, quá no. Thế là nhờ họ bỏ vào hộp mang về, giữa đường thì gặp một nhóm trẻ và những người già đường phố đang ngồi vui trung thu, mình xin phép gửi tặng họ, họ vui lắm là mình cũng vui lây.

Về đến phòng là cũng 10 giờ.

Sáng thức dậy, lang thang ra một quán cà phê Trung Nguyên gần khách sạn khá đẹp, dạng cà phê vườn. Vào uống một ly nước cam + một dĩa cơm tấm. Nói chung là không có gì đặc biệt, ăn lót lòng để chuẩn bị làm việc.

8h30, người của công ty đối tác đến, bắt đầu làm việc…

Xong hết việc là gần 11h, về chuẩn bị hành lý trả phòng, trời bắt đầu mưa nặng hạt. Long Xuyên nằm ngay bên con sông Hậu. Vừa ra khỏi thành phố là phải lên ngay một cái phà tên là phà An Hòa. Trời thì mưa nên ai cũng ngại xuống đi bộ, thế là ngồi hết trên xe. Sông mùa này nước đổ về, chảy xiết mà phà An Hòa lại không phải là phà lớn, ngồi trên xe cũng có cảm giác “phiêu lưu” lắm.

Qua phà là sang địa phận Đồng Tháp và bắt đầu chặng đường gian khổ, đường đoạn này cực kỳ xấu, nên xe phải chạy rất chậm. Đoạn đường chắc chỉ khoảng 30-40km tuy nhiên phải đi mất hơn tiếng đồng hồ. Kết thúc đoạn đường là một cái phà khác – phà Cao Lãnh. Xe phải xếp hàng rồng rắn qua phà nên đợi hơi lâu.

Qua đến phà là sang Cao Lãnh, được anh Dũng dặn trước là ngay đài liệt sĩ, chạy ngược hướng về Sài Gòn khoảng 50m sẽ có một quán có chữ Tiger thức ăn rất ngon. Quán vắng hoe, hầu như chỉ có mỗi xe mình ăn, tuy vậy thức ăn làm khá tốt, không nhớ đã kêu mấy món, nhưng mình nhớ là có Bò nướng tỏi, Lẩu chua lươn…

Ăn uống xong thì tiếp tục lên đường. Trên đường về ghé quán Vân Mập cho anh Hiếu Sales mua đồ. Mình cũng xuống tham quan và mua cho ba vài phong bánh bía Sóc Trăng để cụ ăn uống trà.

Từ đó đến suốt dọc đường về là trên xe không ngớt điện thoại từ công ty gọi, cả xe mạnh ai nấy nói chuyện điện thoại liên tục, chắc là bác tài xế cũng nhức đầu lắm.

Về đến công ty là hơn 6h, vào lấy xe chạy về nhà, kết thúc chuyến công tác.

Laptop – nên hay không?

Mua máy tính xách tay, mua hay không?

Mục đích

Đi làm thì có máy trong công ty, đi công tác thì cũng không đi nhiều, 1 tháng đi một vài lần là nhiều, mà đi công tác cũng chẳng muốn tha cái máy theo chi cho khổ. Về nhà thì có máy desktop ở nhà, làm việc cũng trên máy desktop là chính. Cuối tuần thì không dành cho gia đình thì cũng đi lòng vòng uống cà phê, chụp hình. Mục đích chủ yếu và cũng là lý do quan trọng nhất khiến mình muốn mua laptop là mỗi khi đi gặp khách hàng, đi bàn về dự án, hay đi trình diễn dự án… những lúc ấy cần máy kinh khủng. Trước giờ đa phần đều phải mượn máy vào những lúc ấy.

Vì vậy nên mua máy mà trong đầu lúc nào cũng sợ không tận dụng được hết công năng của nó, chỉ sợ mang máy về thì lâu lâu mới xách ra một lần, mình thì không có thói quen – mà cũng không có thời gian đi long bong ra ngoài cà phê Wifi ngồi… chat! Thế là lại san quyết định thứ 2: mua máy cũ.

Cuối cùng quyết định: kinh tế nhất là không nên đầu tư quá nhiều vào cái laptop, chủ yếu có DVD/CDRW, wifi, cấu hình vừa đủ chạy mấy cái webserver Apache, SQL, PHP…

Cân nhắc

Cái quyết định nhỏ thế mà xem ra lại thành phức tạp với mình. Nói ra ai cũng không tin, làm Online Marketing của Sony thế mà đến giờ này vẫn chưa được cấp laptop, trước giờ cũng dây dưa lần lữa không mua cũng do chờ công ty nó cấp máy.

Hôm rồi ngó qua thấy sếp Bằng chiến đấu với phòng kế toán và phòng IS mà mình đâm nản, chẳng muốn xin xỏ gì nữa. Tưởng tượng ra cảnh đề xuất lên lại bị bọn kế toán vặn vẹo, cần máy để làm gì, làm gì mà cần, web chỉ ngồi một chỗ cần gì notebook?… chắc nổi điên lên mất. Nghĩ đi nghĩ lại cuối cùng quyết định mua, nhưng mua cái nào?

Lựa chọn

Ngồi lòng vòng lên mấy cái PPCVN, HHVN để kiếm máy. Đến nay vẫn chưa tìm được cái nào vừa ý, cái vừa ý thì không vừa túi, cái vừa túi thì thiết yêu cầu. Mà mua trong tâm trạng nửa cần nữa không kiểu này nó cứ lừng khừng khó chịu thật. Ghét cái kiểu lừng khừng này nhất!

Chọn vòng vòng thì được cái Dell 700M, định bụng chiều nay ra xem máy thì đùng cái đầu giờ trưa, tập đoàn gửi mail về danh sách các máy tính có vấn đề với pin của Sony (mấy hôm nay trên báo đài cũng đang lình xình vụ này, các hãng lớn như Dell, Apple, HP, IBM, Toshiba… đều đồng loạt thu hồi các máy xách tay vì một lỗi trong pin có thể dẫn đến nổ máy)

Thế là đành chọn cái khác, hiện tại có cái HP NC4000 có vẻ ổn, nhưng nhìn thiết kế thì lúa không chịu nổi.

Vẫn đang tiếp tục… mệt thiệt!

Entry for October 05, 2006

Bài đầu tiên cho cái Blog này, đôi khi cũng cần viết ra 1 cái gì đó để lâu lâu đọc lại còn nhớ mình đã làm gì. Đôi khi cũng cần một nơi có thể viết hết ra, đôi khi cũng muốn được mọi người quan tâm, và đôi khi cũng muốn biết xem có ai quan tâm đến mình không.

Trước mắt chắc cũng chẳng ai vào chỗ này, vì cái ID này chưa được sử dụng. Kệ, một thời gian nữa rồi chuyển sang ID mới.

Cuối cùng: Khai trương và gia nhập vào cái trào lưu Blog này – cái mà trước nay mình vẫn chửi ỏm tỏi.

(Cập nhật: Đây là bài viết đầu tiên trên blog cũ khi còn host ở Yahoo 360)