Category Archives: Cảm nghĩ




Rothschild đến Việt Nam và những suy nghĩ

money_trap

Hôm qua đọc được tin này: Thêm một ngân hàng nước ngoài đến Việt Nam. Lần này là Ngân hàng Rothschild. Tôi chợt nhớ đến một quyển sách mà mình đã đọc cách đây một thời gian, cuốn Currency Wars – Chiến tranh Tiền tệ. Giở quyển sách ra đọc lại, vẫn có cảm giác như lần đầu đọc: một sự pha trộn giữa ngạc nhiên, thán phục và sờ sợ.

Bỗng nhiên muốn viết một cái gì đó.

____

Chúng ta thường hay nghe nói đến Citybank, HSBC hay là… Vietcombank, nhưng chắc là không nhiều người biết đến cái tên NM Rothschild & Sons Ltd. Thật ra đây là một cái tên rất nổi tiếng trong ngành tài chính thế giới, tên của một gia tộc mà sự phát triển của gia tộc này gần như gắn liền với các sự kiện chi phối lịch sử thế giới mấy trăm năm nay.

Nếu chúng ta biết được Cục Dữ Trữ Liên Bang Hoa Kỳ (FED) bị chi phối bởi những ngân hàng tư nhân, và biết được rằng ai là kẻ đứng đằng sau các cuộc chiến tranh, khủng hoảng tài chính… Như trong quyển Currency Wars đã nói, nếu chúng ta tin rằng Bill Gates là người giàu nhất thế giới thì chúng ta đã là một trong những khán giả của màn kịch lớn nhất thế giới.

Thời điểm đó những điều này làm tôi vô cùng hứng thú và say sưa tìm đọc tất cả những tài liệu liên quan đến vấn này.

Đọc những câu chuyện về sự hình thành của gia tộc Rothschild, một gia tộc đã âm thầm cai quản một ngai vàng quyền lực, chi phối tất cả mọi hoạt động của thế giới. Tất cả những vấn đề vĩ mô nhất, như chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, các chính sách phát triển kinh tế của các vị vua, tổng thống… đều bị sự chi phối của những kịch bản của các tập đoàn tài chính này, mà trong đó Rothschild như là một ông trùm của thế giới ngầm.

Vào đầu thế kỷ 19, khi cuộc chiến giữa Anh và Pháp đang dần đi đến hồi quyết định, trận quyết chiến giữa Napoleon và Wellington ở Waterloo đang bắt đầu diễn ra, kết quả của trận chiến này sẽ quyết định cục diện châu Âu khi đó, nước nào sẽ “thắng làm vua” và nước nào sẽ “thua làm giặc”. Đây cũng là câu chuyện mà tôi thích nhất khi đọc về gia tộc Rothschild. Trong trận chiến này, Rothschild đã xây dựng được những mạng lưới tình báo và gián điệp ở cả 2 phía, và trớ trêu mà mạng lưới tình báo của Rothschild còn hiệu quả hơn cả của quân đội.

Khi đã xác địch được kết quả chiến cuộc ở Waterloo (rằng Napoleon sẽ thua). Các gián điệp của Rothschild tức tốc đưa thông tin này về cho Nathan Rothschild – đầu não của gia tộc này ở London – từ đó ông biết thông tin quý báu này trước tất cả những nhà đầu tư khác ở thị trường chứng khoán London – khi đó đang hồi hộp ngóng chờ kết quả trận chiến. Chính vì sự đi trước này, kết hợp những kỹ năng, chiêu thức (và cả thủ đoạn) của mình, Rothschild đã làm cho mọi người tin rằng nước Anh đã thua trận, khiến người ta bán thốc bán tháo trái phiếu của Anh đi, trước khi chúng biến thành giấy vụn. Đúng thời điểm đó, người của Rothschild đã mua vào tất cả với giá gần như cho không. 1 ngày sau tin tức chiến thắng của Wellington mới về đến và lúc này Rothschild đã gần như thâu tóm tất cả trái phiếu chính phủ của Anh. Rothschild trở thành chủ nợ lớn nhất của nước chiến thắng. Wellington chiến thắng trên chiến trường để đưa Rothschild đi qua khải hoàn môn của quyền lực vô hình. Từ đó gia tộc này xây dựng một tập đoàn tài chính hùng mạnh cho tới tận ngày hôm nay. Và hôm nay, tập đoàn này đến Việt Nam.

Trước đây tôi thường thắc mắc không hiểu vì sao người ta lại có các khoảng vay ưu đãi cho các nước khác, rằng vì sao có những khoản viện trợ ODA, vì sao World Bank hay IMF lại thường đưa ra những khoản chi hào phóng cho các dự án của các chính phủ nước nghèo… Nhưng càng đọc càng hiểu hơn, và biết rằng đó là những cạm bẫy ngọt ngào mà các nhà tài phiệt thế giới ru ngủ  các chính phủ. Để rồi đến một lúc nào đó những chính phủ này phải chịu sự chi phối của tổ chức này.

Không cần nhìn đâu xa, mới vừa đây thôi thị trường chứng khoán Việt Nam đã giáp mặt với một cuộc khủng hoảng tương tự. Khi mà người ta bơm tiền vào thị trường để gây nên những giá trị ảo cho các công ty, đẩy những cổ phiếu các công ty đi quá xa so với giá trị thực sự của nó, dẫn đến các nhà đầu tư Việt Nam bỗng một đêm trở nên giàu có – tôi có những người bạn chỉ dành ra 500 triêu để đầu tư và có thời điểm họ có trong tay đến hàng chục tỉ. Đẩy theo các giá trị khác tăng theo, mà điển hình nhất là các giá trị đất đai, khi mà người ta mua nhà ở không phải vì nhu cầu chỗ ở mà là vì những giá trị ảo do chính những người mua đẩy lên. Cho đến một thời điểm thích hợp, khi mà những bàn tay vô hình này rút vốn ra khỏi thị trường thì tất cả những giá trị đó rớt không phanh rơi rớt hơn cả giá trị thật sự của nó, dẫn đến làn sóng thua lỗ, phá sản của hàng loạt người, thậm chí người ta có cảm giác khiếp sợ về chứng khoán, nghĩa là đâm đầu vào thì chỉ có chết. Đó chính là thời điểm đỏ sàn vừa qua.

Thời điểm “huy hoàng ảo” của chứng khoán ấy, tôi từng thấy rất nhiều “nhà đầu tư” xuất thân từ đủ mọi thành phần, từ những công nhân viên văn phòng, những người dân buôn bán rút tiền dành dụm ra đầu tư, đến cả những bà nội trợ cũng đi cầm cố tài sản đi chơi chứng khoán, vì chơi là thắng, mà thắng một thắng mười. Lợi nhuận quá lớn này làm người ta quên đi một điều đơn giản, rằng những khoảng đầu tư nào mà lợi nhuận quá lớn đều có những uẩn khúc của nó, rằng thị trường chứng khoán chỉ là một thị trường luân chuyển tiền tệ, đồng tiền chuyển từ nơi này sang nơi khác, nếu bạn thắng tiền thì tiền đó đến từ đâu? Và ai sẽ mất đi những đồng tiền đó?

Tôi có quen một số người làm việc ở các ngân hàng, một số trong bọn họ đang chinh chiến ở các thị trường như Hongkong, New York… họ được công ty mẹ cử về Việt Nam chỉ để làm một việc là tham gia vào các hoạt động đầu tư của thị trường chứng khoán, dùng các quỹ khổng lồ để kích thích đầu tư. Ngồi nghe họ nói chuyện, tôi tham gia nhiều nhưng chợt  rùng mình khi nghĩ đến một điều đơn giản: làm sao những bà nội trợ, những anh công nhân viên chức có thể chiến thắng được những cái đầu này ngay trên chính sân chơi của họ? Thế mà người ta vẫn nghĩ rằng chứng khoán là một mỏ vàng và tất cả mọi người ồ ạt đổ xô đến… nhặt về.

Và kết quả ở thời điểm này, tôi đã chứng kiến không ít bạn bè trắng tay sau canh bạc chứng khoán, và sau đó là địa ốc.

Tôi đứng ngoài những làn sóng này, vì tôi tự xét mình không phải là một chuyên gia tài chính, và tôi nghĩ đơn giản: tôi không thể chiến thắng những cái đầu kia. Tôi dùng tiền của mình để đầu tư vào những lĩnh vực mà tôi hiểu rõ. Có đôi lúc tôi cũng ghen tị khi bạn bè bỗng dưng lên vùn vụt, nhà cửa 2-3 cái, xe cộ bạc tỉ… Nhưng cuối cùng nghĩ đi nghĩ lại, tôi vẫn đứng ngoài. Thế nên bây giờ tôi vẫn sống tương đối khỏe, tôi không phải lo lắng, trầm uất, tiếc nuối…

Nghĩ xa hơn một chút, hàng ngày xem tin tức cứ nhìn thấy những buổi ký kết nhận những khoản vay của chính phủ,  những khoản viện trợ mà chính phủ đã nhận từ các nước, các tổ chức trên thế giới. Bỗng thấy lo! Tôi không phải là nhà kinh tế, tôi không hiểu tường tận về kinh tế vĩ mô. Nhưng tôi biết một quy luật đơn giản: không ai cho không ai cái gì, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính. Chiến lược của các nhà tư bản không phải là vài năm, vài chục năm mà có khi là hàng trăm năm.

Liệu rồi đến một lúc nào đó con cháu chúng ta sẽ chịu sự chi phối của họ? Đến một lúc mà các khoản vay sẽ trở thành khoản vay vĩnh viễn – như vua William Đệ Nhất đã nợ gia tộc Rothschild, để rồi tất cả những khoản đóng thuế của toàn dân Anh chỉ để làm một việc là trả lãi cho Rothschild, để rồi nhà vua đã buộc phải ra những quyết định có lợi cho họ.

Nhậu, cà phê và quê hương

cafecoc2

Nếu bạn hỏi điều gì làm tôi nhớ nhất về Việt Nam mỗi khi ra nước ngoài – tất nhiên là trừ gia đình và những người thân – tôi sẽ trả lời đó là… “nhậu”.

Tôi không phải là người nghiện rượu bia, chắc chắn là vậy, và cũng không phải tôi đến quán nhậu vì rượu bia, tôi đến là vì cái không gian bè bạn ngồi nói chuyện trên trời dưới đất ở quán nhậu.

Và vì ở quán nhậu, tôi được ngồi với những người bạn của mình. Tôi có nhiều mối quan hệ trong công việc, và vì công việc, tôi thường đi ăn trưa, ăn tối, tiệc tùng… Ở nơi đó cũng có thức ăn, có bia rượu… Nhưng ở đó không có những người bạn. Vì vậy tôi không gọi đó là đi “nhậu”, tôi phân biệt rõ tiệc tùng xã giao và… nhậu.

Về hình thức thì “nhậu” đối với tôi rất bình dân, tuy thỉnh thoảng cũng có vào  những quán đắt tiền, nhưng phần đông là ngồi lê la ở những địa điểm rất bình dân: khi thì làng nướng, khi thì bờ kè, bia Đức bia Tiệp, hôm nào hứng chí thì chạy xa hơn một chút về Bình Dương, Hốc Môn…

Và “nhậu” thường không sang trọng bằng “tiệc tùng”, ở “tiệc” thì ta thường nói về những vấn đề cao siêu, những chuyện ít nhiều xoay quanh công việc, tiền bạc, hoặc nếu có những vấn đề khác thì chỉ là xã giao. Nhưng khi “nhậu”, đôi khi ta nói… “nhảm”, một chuyện trên trời dưới đất cũng có thể là chủ đề, và ta cười sảng khoái vì điều đó.

Và tuy “tiệc” sang trọng hơn, nhưng “tiệc” có thể đi với bất kỳ ai, còn khi ta rủ ai đó đi “nhậu”, đó chắc chắn là bạn của ta. Tất nhiên sẽ có một số trường hợp ta mời những người ở nhóm tiệc đi “nhậu”, là vì khi đó họ đã là bạn của ta.

Thời gian tôi ở nước ngoài, hình ảnh làm tôi nhớ nhất về bạn bè đó chính là những hôm ngồi đến khuya ở bờ kè, kế bên là con kênh mà dẫu đã cải tạo rất nhiều, tôi cũng không dám gọi đó là thơ mộng, thế mà vẫn vui.

Còn ở nước ngoài, Singapore chẳn hạn, nhắc đến đi nhậu ở bên ấy mà phát chán, đừng mong tìm được một cái gì đó tương tự như bờ kè. Thường thì sau giờ làm, nếu không đến bar, pub thì đến một cái quán ăn nào đó, hoặc không thì đến bàn bida, rồi kêu vài chai bia, lúc nào cũng có một cảm giác sang trọng, xa cách. Cái gần nhất có thể tạo ra với hình ảnh nhậu ở Việt Nam, đó là tự mua vài chai bia, vài cái thức ăn nhanh, rồi cả bọn ra vịnh Marina mà ngồi. Nhưng nói chung là không thể có được cái không khí như ở Việt Nam.

Ngoài nhậu thì có cà phê, không phải cà phê máy lạnh có wifi và những người phục vụ mặc đồng phục trong những quán cà phê hiện nay ở Sài Gòn như Gloria Jean, Highland… Mà là “cà phê cóc” (cà phê lề đường). Dẫu không sang trọng, không tiện nghi… nhưng chẳng hiểu sao tôi vẫn cứ thích cái góc Nguyễn Trung Trực buổi sáng, hoặc là Hàn Thuyên. Sáng sớm ra ấy, xách tờ báo, ngồi uống ly cà phê cùng những người bạn, những người anh, thậm chí là những người không quen, nói chuyện trên trời dưới biển thế mà vui, mà đôi khi ngồi một mình nhìn người ta đi qua đilại cũng có cái vui riêng.

Một nhịp sống bình dị nhẹ nhàng, không phải là cái hối hả của Singapore hay Hồng Kông, không phải là những đội quân rầm rập bước trong trạm xe điện ngầm ở Tokyo. Những buổi sáng nhẹ nhàng như thế ở Sài Gòn mang mọi người đến gần nhau hơn. Đó là nhịp sống Sài Gòn, là nhịp sống quê hương tôi.

Có đi xa mới thấy thương thấy nhớ những hình ảnh quê hương đất nước. Dẫu rằng tôi chỉ xa quê hương không quá lâu, không phải là 10 năm, 20 năm như những người xa xứ khác, thậm chí đôi khi chỉ là đi công tác nửa tháng một tháng, thế mà mỗi khi nhìn trên màn hình thấy máy bay đang tiến về vùng trời của Việt Nam, tim tôi lại đập rộn lên. Rồi khi làm thủ tục nhập cảnh xong, bước ra cửa được những anh taxi chào đón, bằng chính thứ tiếng mẹ đẻ của mình, tôi không thấy khó chịu như thường lệ, và những lần như thế đoạn đường từ phi trường về nhà, ngồi trên taxi tôi thường hạ kính xuống, để được nghe cái ồn ào, cái khói bụi, nghe những câu nói tiếng Việt. Tự nhiên thấy thân thuộc, nhẹ nhàng. Dẫu quê hương không đẹp, không hiện đại bằng nhưng nơi tôi vừa đến, dẫu có nóng bức khói bụi, đó vẫn là nơi thân thương nhất của mỗi chúng ta mà chỉ có đi xa tôi mới cảm nhận hết được.

Tôi có may mắn từ ngày ra đời làm việc được đi khá nhiều nước, và đến giờ tôi rút ra một kết luận cho riêng mình: “Không đâu bằng được sống chính trên quê hương mình, được sống hòa vào những người cùng màu da, chung tiếng nói”. Dẫu cho ở Singapore, ở Phillipines, hay Hongkong người ta cũng tương tự như mình, cũng da vàng, cũng tóc đen. Dẫu ta đã quen từng con đường, góc phố xứ người, dẫu có thật nhiều bạn bè xứ người… Thì đó vẫn là xứ người, và không bao giờ có thể có cảm giác như đó là quê hương.

Tôi nhớ có một lần tôi đi siêu thị ở Singapore, bỗng nhiên tôi nghe “Mẹ ơi, lại đây xem cái này với con”, như một phản xạ tôi giật mình, và lật đật chạy đến, chỉ để nhìn 2 mẹ con ấy.

Có những điều tưởng như rất bình thường xung quanh ta, nhưng khi xa nó rồi ta mới thấy nhớ những điều bình dị mà thân thương ấy. Ngày xưa học phổ thông, tôi nhớ một câu thơ của nhà thơ Chế Lan Viên:

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất bỗng hoá tâm hồn!

Lúc ấy tôi chỉ đơn giản đọc câu thơ ấy theo cách học thuộc lòng, vì lúc ấy tôi vẫn đang ở, và quê hương khi ấy “chỉ là nơi đất ở”. Nhưng giờ lớn lên, đã từng ra nước ngoài, từng xa quê hương, bỗng tôi thấy thấm thía từng câu từng chữ ấy.

Quê hương dẫu còn nhiều điều chưa hoàn thiện, ra đường vẫn bị cảnh chen lấn, nói thách, nhếch nhác… nhưng nếu đã từng xa quê hương một lần, bạn sẽ thấy đó chỉ là những điều nhỏ nhặt, ta đến một xứ sở văn minh, ta được những tiện nghi, hoa lệ, nhưng ta sẽ mất đi những cái lớn hơn nhiều…

Tản mạn về chuyện ngôn ngữ

baroi1

Hôm nay nhận được lá thư từ một Việt kiều:

“Dear Hieu,

Co La Di Nam.  Nam co noi ve Hieu.  Ngay nao Hieu di uong ca phe ( Coffee ) voi Nam and

Co duoc.? Hieu email cho co Biet.    Sorry if my Vietnam not good enough.

Co, Christina Bates”

Nam là một người bạn của tôi và người này là dì của cậu ấy, người này sang Mỹ được một thời gian và nay muốn về Việt Nam làm ăn, muốn nhờ tôi tư vấn một số vấn đề. Mọi chuyện chẳng có gì và với tính cách của tôi thì tôi sẵn sàng giúp đỡ những trường hợp như thế này hết khả năng của mình. Nhưng tôi đã viết thư từ chối.

———

Trước tiên tôi xin nhấn mạnh là tôi không quơ đũa cả nắm – vẫn có những người Việt kiều mà tôi rất kính trọng. Nhưng tôi đã gặp một số Việt Kiều và đa số họ không ít thì nhiều đều có ý xem thường người trong nước. Xem người trong nước như một cái gì đó luôn luôn lạc hậu, quê mùa, dốt nát… Gặp những trường hợp này, nhẹ thì tôi sẽ tránh đi không tiếp xúc, hôm nào “trái gió trở trời” đụng ngay ngày u ám của tôi thì tôi ngồi lại “bơm vá” cho đến khi nào ê mặt thì thôi.  Tôi đã làm việc với khá nhiều người nước ngoài, và tôi rất lấy làm lạ là trong khi họ rất tôn trọng người Việt Nam, thì những người Việt Kiều này – cùng là người Việt Nam – lại rất hay có thái độ coi thường đồng bào của mình.

Ngoài ra có một điểm mà tôi cực kỳ tối kỵ, nhưng có khá nhiều các Việt Kiều trẻ thường bị, đó là quên quê hương, quên cội nguồn gốc rễ… mà dễ thấy nhất là qua việc quên tiếng Việt.

- Tôi có một người bạn, anh ta là bạn của một cô ca sĩ khá nổi tiếng – thôi không úp mở nữa, đó là cô NTV – trong một lần đi ăn chung, cô ấy khá hoạt bát nói chung là không vấn đề gì, cho đến khi cô ấy nói về thời gian mấy năm sống ở nước ngoài và bảo rằng mình không nhớ rõ tiếng Việt lắm do đã sống ở nước ngoài.

- Trong khi đó tôi có quen một người bạn đã khá cao tuổi (trên 60), người này sang Thụy Sĩ từ những năm 20 tuổi, gần 50 năm sống ở một vùng rất ít người Việt, nhưng ông vẫn giữ đúng được giọng nói của mình, một kiểu nói thuần Việt theo kiểu người xưa, và hơn cả đó là ông dạy cho những người con của mình dầu sinh ra và lớn lên ở Thụy Sĩ vẫn nói tốt tiếng Việt.

Do đó đừng nói với tôi là mới “vác xác” qua xứ người vài năm thì đã quên mất tiếng Việt. Lúc ấy không vì giữ thể diện cho bạn tôi thì chắc tôi sẽ hỏi lại: “Tôi thấy tiếng Anh của em cũng lơ lớ, tiếng Việt thì em không rành, vậy em nói tiếng gì?”

Dạo gần đây trong giới trẻ sống ở ngay trong nước, cũng xuất hiện một số thành phần “ba rọi”, đó là từ tôi dùng cho những người nói một câu thì pha tiếng Anh hết 3/4 câu. Gặp những người này tôi thường nói “nếu yêu thích tiếng Anh quá thì nói tất cả bằng tiếng Anh, đừng có nói kiểu ba rọi như thế”. Ngay trên blog của tôi, cách đây không lâu có một bạn tên là Nguyễn Ngọc Phương vào trao đổi một số vấn đề về Marketing, qua cách bạn ấy trao đổi tôi thấy được 2 điểm:

  1. Bạn ấy dùng rất nhiều “thật ngữ chuyên dụng” tiếng Anh, mà tôi có thể kết luận là những thuật ngữ là do bạn ấy tự “chế tác” ra và tự sử dụng, nó gây khó hiểu cho người không chuyên trong ngành đã đành, nhưng nó cũng làm cho người trong ngành không hiểu nốt. Vậy là chỉ có mỗi bạn ấy hiểu bạn ấy muốn diễn đạt gì (tôi hy vọng vậy), và điều đó đi ngược với mục đích của ngôn ngữ. Ngôn ngữ xuất hiện trên đời để người khác hiểu mình muốn diễn đạt gì.
  2. Bạn ấy dùng rất nhiều từ tiếng Anh kèm theo mà không có mục đích gì, tôi vẫn nhớ mãi trong một đoạn bạn ấy nói: “… nhìn từ khía cạnh Sản phẩm (Product)” – tôi thật sự không hiểu khi nói từ “sản phẩm”, liệu nó có thiếu về mặt nghĩa nhiều đến đến mức phải mở ngoặc để thêm vào “product” hay không? Hay đó chỉ là để người đọc biết rằng mình có biết tiếng Anh? Đó là tôi chưa kể đến những tiếng Anh này sai chính tả rất nhiều.

Tôi không có thành kiến gì với bạn này – vì xét cho cùng tôi và bạn này không quen biết nhau – tuy nhiên không phủ nhận một điều là tôi khá khó chịu khi đọc những phản hồi của bạn này. Và nếu không vì lịch sự trong trường hợp tiếp khách đến nhà thì có lẽ tôi đã không trả lời cho bạn ấy. Điều đó cho thấy việc sử dụng ngôn ngữ “ba rọi” thường không mang đến sự nể trọng từ phía người nghe (như các bạn thường nghĩ), mà ngược lại đa phần trường hợp nó mang đến sự khó chịu, vậy rõ ràng là nó hại nhiều hơn lợi.

Để kết luận phần này, tôi không nói việc biết thêm ngoại ngữ là sai – trái lại quan điểm của tôi là biết càng nhiều ngoại ngữ càng dễ thành công. Tuy nhiên tôi không cổ vũ cái kiểu dùng tiếng Việt kiểu “ba rọi”. Tôi không hiểu hay ho gì ở cái việc quên đi cội nguồn của mình mà những người này luôn cố tỏ ra rằng mình nhớ nhiều tiếng Anh hơn tiếng Việt.

———

Quay trở lại bức thư, vì sao tôi từ chối?

Trước tiên nhìn toàn cục bức thư, cứ cho đây là một người không giỏi tiếng Việt, hoặc thậm chí không biết tiếng Việt cũng được. Nhưng cái cách viết hoa viết thường thì dù ngôn ngữ nào cũng có quy tắc giống nhau, và cái chữ “cà phê” không không nhất thiết phải mở ngoặc để bảo rằng “coffee”, nó chẳng mang lại hiệu quả gì trong ngôn ngữ cả. Và nếu đã viết được cả cái thư như vậy thì không lý gì không biết chữ “và” để khỏi phải dùng “Nam and Co”

Cuối cùng là câu “Sorry if my Vietnam not good enough”, một câu ngắn gọn mà có đến 2 lỗi ngữ pháp thì cho thấy người viết chẳng những không giỏi tiếng Việt mà tiếng Anh cũng không giỏi nốt. Người ta đã chối bỏ gốc rễ, nhưng giờ thì cái cành cũng chẳng có, vậy thì họ thuộc về nơi nào?

Đó là về câu chữ, còn về nội dung cái thư, lần đầu viết thư, cơ bản nhất của một lá thư thương mại cũng không có, viết không đầu không đuôi, giọng văn thì toát lên đầy cái vẻ ra lệnh, cho tôi cảm giác như tôi đang cầu cạnh gì người này chứ không phải là họ cần tôi. Có vẻ như họ đang nghĩ họ cầm tiền về đây, và những người xung quanh phải xúm lại họ để tranh nhau.

Tổng hợp những điều này lại, cho thấy rằng họ đang không trân trọng tôi. Có thể họ giàu, họ có nhiều tiền, và mục tiêu họ có ý định làm ăn lớn ở đây, nhưng với cái thái độ này cộng với cái tính của tôi thì sự hợp tác này chẳng đi đến đâu cả. Đó là lý do tôi viết thư trả lời từ chối hẹn gặp.

Câu chuyện hợp tác của tôi với người này vậy là coi như chưa bắt đầu đã kết thúc, và tôi chẳng có gì tiếc về sự kết thúc này. Tôi chỉ muốn chia sẻ một điều, tiếng Việt của chúng ta rất đẹp, hãy nhìn vào cách mà những người trí thức xưa nói chuyện với nhau, thuần Việt và đẹp vô cùng, ngôn ngữ của chúng ta có vốn từ rất phong phú, rất nhiều từ để diễn đạt, trừ những từ chuyên môn vừa xuất hiện trong những lĩnh vực rất mới, chưa kịp có từ theo nghĩa Việt chuẩn xác thì chúng ta dùng tạm tiếng Anh trong khi chờ những nhà ngôn ngữ học làm việc.

Còn lại trong cuộc sống hàng ngày, tôi chẳng tìm ra đâu là lý do trở ngại khi chúng ta muốn diễn đạt ý muốn nói bằng tiếng Việt cả. Có những thời điểm, những môi trường cần sử dụng tiếng Anh, chúng ta sẽ sử dụng tiếng Anh. Còn không thì chúng ta sử dụng một ngôn ngữ Việt Nam đẹp.

Đừng hiếp dâm tiếng Việt! [1]

——–

[1] - Gần đây mình có nhận được một số góp ý phản đối câu cuối, có lần đã định bỏ nhưng cuối cùng vẫn quyết định giữ lại. Vì với mình, cụm từ này không mang nghĩa gì xấu xa hay phỉ báng tiếng Việt cả. Với mình những hành động nêu trên chính là hành động gây ô uế tiếng Việt một cách cưỡng bức. Nó làm xấu đi sự thanh cao giàu đẹp của ngôn ngữ Việt. Do đó từ “hiếp dâm” được dùng trong ngữ cảnh này với mình là hợp lý và nó không có gì mang ý nghĩa xúc phạm tiếng Việt như có bạn đã phản hồi.

Bên cạnh đó, đây là một cụm từ mình đã được nghe từ một nhà phê bình văn học (rất có uy tín), khi nghe ông nói chuyện, chính ông đã dùng cụm từ này và khi đó mình rất thích cách ví von rất chính xác và độc đáo này. Có thể vì mình chưa giải thích rõ nên gây đôi chút phản cảm cho một số người đọc. Tuy nhiên với mình nó vẫn diễn tả đúng những gì mình muốn nói.

Liệu chúng ta có bất hạnh?

Năm 2005, sau gần 2 năm hoạt động, công ty riêng của mình bị phá sản. Toàn bộ tiền bạc và trên hết là tâm huyết, ước mơ của mình coi như sụp đổ. Cú sốc không nhỏ, người bạn đối tác làm chung đã đóng cửa ở trong phòng không đi đâu trong gần nửa năm, mình thì dằn vặt tự vấn mình đã sai lầm ở đâu, đã để vuột mất cơ hội nào…

Năm cuối năm 2007, chuyến hàng quan trọng xuất qua cảng bị giữ lại, đối tác từ chối nhận hàng do trễ tiến độ, chuyện chuyện tình cảm bị vừa bị trục trặc, xưởng sản xuất đồ gỗ đóng cửa. Mãi đến 29 tết mình mới kịp chạy vay đủ tiền để lo tết cho gia đình.

Đôi khi cuộc sống vùi dập chúng ta đến những tình huống cùng cực, chúng ta ngỡ mình đã bị vùi xuống tận đáy của cuộc đời. Nhưng rồi sau mọi chuyện mình nhận ra: chưa đâu, chúng ta vẫn còn may mắn lắm. Hãy nhìn vào Nick trong đoạn video dưới đây.

Nick sinh ra không có tay và chân – đúng ra thì anh có một mẫu thịt nhỏ bên dưới nhưng không thể gọi đó là một cái chân được. Thế mà anh đã sống và sống hết mình với những gì tạo hóa cho anh, với cái chân nhỏ anh có thể làm được rất nhiều thứ như đi lại và cả đánh trống. Và trên hết anh có một nghị lực phi thường.

Đoạn video thực sự làm mình xúc động và khâm phục ý chí của Nick, mình đã search một vài thông tin trên internet và càng khâm phục hơn khi với một cơ thể đầy khiếm khuyết như thế, Nick đã tốt nghiệp đại học và có 2 bằng đại học về Accountant và Financial Planning. Giờ Nick mang những câu chuyện, những suy nghĩ của mình để chia sẻ với các bạn trẻ và về những vấn đề mà tuổi trẻ thường phải đối mặt.

Mình rất ấn tượng với một đoạn trong bài nói chuyện của Nick:

“There is time in life when you fall down, you feel you don’t have the strength to get back up. Do you think you have hope? I’m telling you that I am down here, facing down, and I have no arms and no legs. It should be impossible for me to get back up. But it’s not. You see I’ll try one hundred time to get up. If I fail 100 times, and I give up. Do you think that I am ever going to gave up? No. But if I fail and I try to get up again, and again and again. I just want you to know that it’s not the end. It matters how you’re gonna finish. Are you gonna finish strong? You’ll find that strength to get back up, like this.”

Đúng vậy, trong cuộc sống có những lúc bạn vấp ngã, và những lúc ấy chúng ta thường dằn vặt sao cuộc đời quá bất công đối với chúng ta. Thậm chí có những người đã không vượt qua được và tự kết liễu đời mình. Hãy nhìn vào Nick, để chúng ta thấy rằng mình vẫn còn ở xa lắm với cái đáy tận cùng của bất hạnh, rằng chúng ta vẫn còn sung sướng lắm.

Mình cứ nhớ mãi hình ảnh Nick cố gắng cúi đầu xuống để ăn một miếng thịt, một việc quá dễ dàng nhưng lại vô cùng khó khăn nếu không có tay, thế nhưng anh vẫn vui cười.

Hãy vui sống và lạc quan, vì chúng ta may mắn hơn chúng ta nghĩ rất nhiều.

Người Việt và những thói xấu

Bài này chống chỉ định cho những ai đang là người Việt và thích được nghe khen, thích những lời êm tai. Dẫu biết rằng viết bài này xong có thể sẽ có một lô chỉ trích từ các “phần tử cực đoan”, nhưng vẫn viết vì blog đâu phải chỉ là chỗ để khen tặng lẫn nhau.

Người Việt xưa nay vẫn được tự sướng là cần cù, siêng năng, chăm chỉ… Khoan xét những điều đó đúng hay sai, cho là đúng đi. Thì bên cạnh đó người Việt vẫn còn bị hàng lốc những tính xấu khác kéo ghì cả dân tộc xuống hạng 144 trong bảng tổng sắp 181 quốc gia trên thế giới.

Vô kỷ luật

Vô kỷ luật dẫn đến coi thường giờ giấc. Điển hình là đám bạn của tôi (và hầu hết những người chung quanh hiện tại), hẹn hò 9h thì 9h15 vẫn chưa thấy bóng dáng, thậm chí trước khi đến đã nhắn tin + gọi điện thoại trước bảo rằng bây giờ sẽ ra, vẫn ậm ừ rồi 9h30 lết thết tới. Tệ hơn nữa là có người đã chuẩn bị trước, nhưng vẫn tung tăng đợi một thời gian rồi mới ra vì “có ra sớm cũng phải đứng đợi”. Riết bây giờ tôi phải tự đề ra 2 cách giải quyết:

  • 1 là ra điều kiện, hẹn 9h nếu 9h5 mà không thấy ai đến thì tôi đi về.
  • 2 là trường hợp không thể dùng cách đó, thì hẹn sớm 8h30 rồi 9h đến – vô hình chung giải quyết theo cách này thì tôi cũng thành một trong số họ. Phát chán!

Vô văn hóa

Nghe có vẻ nặng nề nhưng từ vô văn hóa được dùng chính xác trong trường hợp này.

Điển hình nhất là cái văn hóa tối thiểu, đó là xếp hàng. Tôi đã từng chửi thẳng những người như thế ở sân bay, rạp chiếu phim, máy rút tiền ATM… Một dãy người đang xếp hàng thì từ đâu xộc tới chen ngang vào, thậm chí gạt cả người đang đứng xếp hàng ra một bên.

Hoặc như chuyện lái xe ngoài đường, một dây đang xếp hàng nối đuôi nhau, bỗng có một xe chen vào làn xe máy rồi cắt ngang vào. Những trường hợp này tôi chưa bao giờ cho vào, xe tôi số tự động nên tôi chấp bất cứ cái xe nào cũng không thể chen ngang kiểu đó với tôi được. Thậm chí bố láo thì tôi  vẫn bang thẳng lên ép ra ngoài rồi gọi công an đến xử.

Cũng chuyện lái xe là bật đèn pha trong thành phố, không biết họ có hiểu được cái cảm giác khó chịu như thế nào khi xe chạy sau liên tục pha thẳng đèn vào mặt, điều này không những gây khó chịu mà còn gây nguy hiểm cho xe khác.

Người Việt đố kỵ

Đây là cái tính tệ hại nhất mà tôi thấy ở rất nhiều người Việt, cứ cái gì của mình cũng tốt cũng đẹp, cứ cái gì của người khác là y như rằng phải dở. Thằng kế bên sắm cái tivi 21 inch thì nhất định mình phải sắm cái 25 inch. Còn nếu sắm không nổi cái 25 inch thì vẫn tìm cách nói cái 17 inch nhà mình hơn cái 21 inch nhà nó. Có lần tôi vào một ngôi nhà ở miền Bắc, cả nhà thuộc diện bình thường và có phần dưới trung lưu, nhưng vẫn chơi 1 cái LCD hoành tráng mà đúng ra phải để trong biệt thự.

Từ cái tính này sẽ sinh ra cái tính tự cao tự đại (và cả tự sướng), cái gì của mình cũng là nhất. Và xét rộng hơn một tí thì cái sự tự sướng này đang ở cấp quốc gia khi mà giáo dục lúc nào cũng ru ngủ thế hệ trẻ bằng rừng vàng biển bạc (tiên sư, đất nước đã có rừng vàng biển bạc thì ông cần quái gì phải học, cứ thế mà cưa xuống kéo lên ăn thôi), rồi nào là người Việt với hàng loạt đức tính thông minh, chăm chỉ, cần cù, kiên cường, bất khuất, đảm đang, ABCDE gì đó…

Từ cái tính đố kỵ này sinh ra thêm 1 cái tính là nói xấu sau lưng người khác, cứ hễ tụm năm tụm ba là y như rằng chủ đề sẽ là nói về một người nào đó đang không có mặt. Chẳng hiểu hay ho vui vẻ gì mà cái điều này xảy ra rất thường xuyên, cả trong những môi trường được cho là trí thức và lịch sự.

Người Việt ích kỷ

Người Việt khi nghèo khổ rách rưới thì rất đoàn kết, nhưng khi đã có chút điều kiện thì y như rằng tan nát. Điều này đúng với rất nhiều trường hợp, thử nhìn lại lịch sử. Cứ mỗi khi bị xâm lăng, bị đô hộ thì toàn dân tộc là một khối đứng bên nhau. Khi yên ổn rồi thì nhất định sinh chuyện. Chế độ VNCH khi trước nếu không có hàng lô tướng lĩnh và những người lãnh đạo tham nhũng thì chắc cũng không đến kết cục ngày 30/4 với hàng loạt viện trợ quân sự, tài chính từ các nước đồng minh. Rồi với chế độ hiện tại thì khỏi phải nói, tham nhũng đạt đến hàng thượng thừa.

Phạm vi nhỏ hơn một tí về cá nhân thì ai biết được cái gì cũng ôm khư khư, dấu nghề, những bí kiếp làng nghề cha truyền con nối được giữ kín như mèo giấu …, rồi đến thời nay, ai học được kỹ thuật gì mới là dấu nhẹm đi, thầy dạy trò thì sợ trò hơn mình (chuyện hoàn toàn có thật trong đa số các trường dạy nhiếp ảnh hiện tại). Họ biết đâu rằng chính sự chia sẻ sẽ mang họ đến những kiến thức mới.

Từ cái đố kỵ và ích kỷ sinh ra việc không ai tin ai và tệ hơn nữa là hãm hại lẫn nhau, điều này thường xảy ra trong những môi trường công sở với tình trạng bè phái đấu đá hãm hại lẫn nhau. Những cộng đồng người Việt ở nước ngoài thì chia rẽ, sống khép kín…

Người Việt chia rẽ

Người ta thường nói người Việt có tinh thần đoàn kết, nhưng thử nhìn lại lịch sử dân tộc thì chỉ trừ những lúc bị giặc ngoại xâm, còn lại có thể nói dân tộc liên miên sống trong chia lìa, từ thời sơ khai đã loạn 12 sứ quân, Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi Tây Sơn – Nhà Nguyễn, rồi chiến tranh Việt Nam – mà thực chất là chiến tranh Nam Bắc… Cấp độ nhỏ hơn, ở miền Nam còn đỡ, miền Bắc thì làng này với làng kia đôi khi xem nhau như kẻ thù, trai làng này léng phén qua làng kia không khéo ôm đầu máu về.

Tất nhiên không phải người Việt nào cũng xấu xí, vẫn còn có những nhân cách sống rất đẹp, tuy nhiên họ dần lạc lõng giữa số lượng quá đông đảo những người Việt xấu xí.

Còn nữa không những nhân cách xấu của người Việt? Viết ra không phải để bôi bác lẫn nhau, bởi tôi cũng là một người Việt, mà viết ra để thấy được những điều xấu của nhau để giúp nhau khắc phục, để tự mình rèn bản thân mình. Những chướng ngại này đến khi nào vượt qua được thì mới mong dân tộc lên một tầm cao mới, muốn vượt qua người khác thì trước hết phải vượt qua được chính bản thân mình đã.